32. Khai Đàn Kết Giới Tứ Thiên Vương Hịch

 

Nguyên văn:

 

開壇結界四天王檄

 

啟建資福道大齋壇   (如前)...奉敕旨建壇于太王祠奉

佛修齋諷經福酬恩事、蠲取本月吉日、啟建福道塲大齋壇、三晝之齋筵載設、十方之世界遙通。今則道塲初啟、科範宣揚、窃慮妖魔外道魑魅鬼神、未知事由、侵犯壇界、爲此檄文、仰仗東方提頭賴吒天王、降臨壇所、權司震位、令掌乾符、領部神兵、護衛壇界、肅清塵垢、掃蕩妖氛、恭迎三寶臨軒、仰達衆眞降駕、齋事完隆、感蒙聖造。須至檄者

右檄仰

東方提頭賴吒天王炤會。準此

啟定六年歲次庚申四月日辰檄。

今則道塲初啟、科範宣行、切恐妖魔、窺窬壇內、爲此檄文、仰仗南方毘樓勒吒天王、降臨壇所、令符炎正、威鎭離方、領部神兵、惶惶赤甲以披身、赫赫火雲而儭足、驅除邪魅以他方、護衛壇塲而嚴潔、奉迎諸佛證明、仰達萬靈降鑒、道塲圓滿、齋事恩霑。須至檄者。

今則道塲初啟、科範宣揚、切恐妖魔、侵犯壇界、爲此檄文、仰仗西方毘樓博叉天王、降臨壇所、身披銀色、位鎭兌方、領部神兵、驅除外道於靈山、剪被魔軍於雪嶺、護衛壇界、清淨莊嚴、奉迎(如前)...

今則道塲初啟、科範宣揚、切恐妖魔、侵犯壇界、爲此檄文、仰仗北方毘沙門天王、降臨壇所、權知坎位、威鎭壬方、領部神兵、(如前)...

 

Phiên âm:

 

KHAI ĐÀN1 KẾT GIỚI2 TỨ THIÊN VƯƠNG3 HỊCH

 

Khải Kiến Tư Phước Đạo Tràng Đại Trai Đàn (như tiền)

Phụng sắc chỉ kiến đàn vu Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; quyên thủ bổn nguyệt cát nhật, khải kiến Tư Phước Đạo Tràng Đại Trai Đàn, tam trú chi trai diên tải thiết, thập phương chi thế giới dao thông. Kim tắc đạo tràng sơ khải, khoa phạm tuyên dương; thiết lự yêu ma4 ngoại đạo, ly mị5 quỷ thần;6 vị tri sự do, xâm phạm đàn giới; vị thử Hịch văn, ngưỡng trượng Đông Phương Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương,7 giáng lâm đàn sở, quyền ty Chấn vị;8 linh chưởng càn phù, lãnh bộ thần binh; hộ vệ đàn giới, túc thanh trần cấu, tảo đãng yêu phân; cung nghênh Tam Bảo lâm hiên, ngưỡng đạt chúng chơn giáng giá; trai sự hoàn long, cảm mông Thánh tạo. Tu chí hịch giả.

Hữu Hịch Ngưỡng

Đông Phương Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương chiếu hội. Chuẩn thử.

Khải Định lục niên, tuế thứ Canh Thân tứ nguyệt nhật thần hịch.

Kim tắc đạo tràng sơ khải, khoa phạm tuyên hành; thiết khủng yêu ma, khuy du đàn nội; vị thử Hịch văn, ngưỡng trượng Nam Phương Tỳ Lâu Lặc Tra Thiên Vương,9 giáng lâm đàn sở, lịnh phù viêm chánh; uy trấn Ly phương,10 lãnh bộ thần binh, hoàng hoàng xích giáp dĩ phi thân, hách hách hỏa vân nhi sấn túc; khu trừ tà mị dĩ tha phương, hộ vệ đàn tràng nhi nghiêm khiết; phụng nghênh chư Phật chứng minh, ngưỡng đạt vạn linh giáng giám; đạo tràng viên mãn, trai sự ân triêm. Tu chí hịch giả.

Kim tắc đạo tràng sơ khải, khoa phạm tuyên dương; thiết khủng yêu ma, xâm phạm đàn giới; vị thử Hịch văn, ngưỡng trượng Tây Phương Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương,11 giáng lâm đàn sở, thân phi ngân sắc, vị trấn Đoài phương;12 lãnh bộ thần binh, khu trừ ngoại đạo ư Linh Sơn, tiễn bị ma quân ư Tuyết Lãnh;13 hộ vệ đàn giới, thanh tịnh trang nghiêm; phụng nghênh … (như tiền).

Kim tắc đạo tràng sơ khải, khoa phạm tuyên dương; thiết khủng yêu ma, xâm phạm đàn giới; vị thử Hịch văn, ngưỡng trượng Bắc Phương Tỳ Sa Môn Thiên Vương,14 giáng lâm đàn sở; quyền tri Khảm15 vị, uy trấn Nhâm phương;16 lãnh bộ thần binh … (như tiền).

 

Dịch nghĩa:

 

VĂN HỊCH KHAI ĐÀN KẾT GIỚI TỨ THIÊN VƯƠNG

 

Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước (như trên)

Việc ... vâng sắc chỉ lập đàn tại Từ Đường Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn; chọn lấy tháng nầy ngày tốt, kiến lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước, ba ngày ấy cỗ chay dọn khắp, mười phương bao thế giới xa thông. Nay tất đạo tràng mới mở, khoa nghi tuyên bày; nép nghĩ yêu ma ngoại đạo, ly mị quỷ thần, chưa biết nguyên do, xâm phạm đàn giới; với văn Hịch nầy, ngưỡng mong Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương phương Đông, giáng xuống đàn tràng, chưởng quản Đông vị; tay cầm điệu phù, thống lãnh thần binh; hộ vệ đàn giới, trong sáng bụi trần, quét sạch yêu ma; cung nghinh Tam Bảo ngự về, ngưỡng trông chư hiền giáng xuống; trai sự tròn xong, cảm mong Thánh chứng. Kính dâng Hịch nầy.

Kính Ngưỡng Hịch

Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương phương Đông chiếu soi. Kính chuẩn.

Hịch giờ … ngày … tháng Tư năm Canh Thân (1920), niên hiệu Khải Định thứ 6.

Nay tất đạo tràng mới mở, khoa nghi tuyên bày; nép sợ yêu ma, lén nhìn đàn nội; với văn Hịch nầy, ngưỡng mong Tỳ Lâu Lặc Tra Thiên Vương phương Nam, giáng xuống đàn tràng, lịnh phù rực sáng, uy trấn phương Nam, thống lãnh thần binh; kinh hoàng giáp đỏ mang trên thân, hiển hách lửa mây mà tiến bước; đuổi trừ tà quỷ đi phương khác, hộ vệ đàn tràng thêm nghiêm tịnh; vâng đón chư Phật chứng minh, ngưỡng thấu vạn linh giáng xuống; đạo tràng viên mãn, trai sự ơn nhuần. Kính dâng Hịch nầy.

Nay tất đạo tràng mới mở, khoa nghi tuyên bày; nép sợ yêu ma, xâm phạm đàn giới; với văn Hịch nầy, ngưỡng mong Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương phương Tây, giáng xuống đàn tràng, thân mang màu bạc, trấn thủ phương Tây; thống lãnh thần binh, đuổi trừ ngoại đạo nơi Linh Sơn, diệt sạch ma quân nơi núi tuyết; hộ vệ đàn giới, thanh tịnh trang nghiêm; vâng đón … (như trên)

Nay tất đạo tràng mới mở, khoa nghi tuyên bày; nép sợ yêu ma, xâm phạm đàn giới; với văn Hịch nầy, ngưỡng mong Tỳ Sa Môn Thiên Vương phương Bắc, giáng xuống đàn tràng, quyền quản Bắc vị, uy trấn Bắc phương; thống lãnh thần binh, … (như trên)

 

Chú thích:

  1. Khai đàn (開壇): tức khai mở đàn Mạn Trà La (s: Maṇḍala, 曼茶羅) để truyền pháp Quán Đảnh. Vị thầy tự khai đạo tràng, truyền pháp Quán Đảnh cho đệ tử được gọi là Khai Đàn A Xà Lê (開壇阿闍梨). Ngoài ra, nó còn có nghĩa là khai mở đàn tràng để tiến hành Kết Giới, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, Giải Oan Bạt Độ, truyền thọ giới pháp, v.v. Như trong Thích Giáo Bộ Vị Khảo (部彙考, Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1521) quyển 3, phần Liêu (), có đoạn: “Thái Khang ngũ niên, Thu cửu nguyệt Kỷ Mão, chiếu chư lộ, vô cấm tăng đồ khai đàn;Đông thập nhất nguyệt Đinh Sửu, chiêu Sa môn Thủ Đạo, khai đàn ư nội điện (太康五年秋九月己卯詔諸路毋禁僧徒開壇冬十一月丁丑召沙門守道開壇於內殿, vào năm thứ 5 [284] niên hiệu Thái Khang [vua Võ Đế nhà Tây Tấn], mùa Thu tháng 9 Kỷ Mão, hạ chiếu cho các nơi không được cấm chư tăng khai mở đàn tràng; đến mùa Đông tháng 11 Đinh Sửu, cho mời Sa môn Thủ Đạo, khai mở đàn tràng tại nội điện).” Hay trong bài tựa của Kim Cang Kinh Chú Thích (金剛經註釋, Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 494) lại có đoạn: “Nhân thỉnh ư Như Lai, đắc từ bi chỉ, khai đàn thiết giảng, phàm tứ thập nhật cáo thành (因請於如來得慈悲旨開壇設講凡四十日告成, nhân thỉnh cầu đức Như Lai, được ý chỉ từ bi, bèn khai đàn thuyết giảng, được bốn mươi ngày thì tuyên bố xong).”
  2. Kết giới (s: sīmā-bandha, bandhaya-sīman, 結界): âm dịch là Bạn Đà Dã Tử Mạn (畔陀也死曼), tức nương vào tác pháp mà quy hoạch một khu vực nhất định nào đó; hay y cứ vào pháp gọi là Bạch Nhị Yết Ma (白二羯磨), tùy nơi chỗ mà hoạch định giới vức để giúp cho tăng chúng không vi phạm lỗi biệt chúng (別眾, tách khỏi chúng), ly túc (離宿, lìa xa 3 y và nghỉ lại qua đêm ở một nơi nào đó), túc chử (宿煮, ở lại qua đêm và nấu ăn), v.v. Về phạm vi kết giới, các bộ Luật đều thuyết khác nhau; nay theo Tứ Phần Luật (四分律) thì đại thể có 3 loại: Nhiếp Tăng Giới (攝僧界), Nhiếp Y Giới (攝衣界) và Nhiếp Thực Giới (攝食界). (1) Nhiếp Tăng Giới nghĩa là chư Tỳ Kheo tập trung tại một nơi để tiến hành Bố Tát (s: poadha, upavasatha, upoadha, upavāsa; p: uposatha, posatha, 布薩), v.v.; được phân thành Tự Nhiên Giới (自然界) và Tác Pháp Giới (作法界). Tự Nhiên Giới, còn gọi là Bất Tác Pháp Giới (不作法界), là khu vực không cần phải quy định đặc biệt nào, mà chỉ căn cứ vào địa hình để hoạch định. Trong Tự Nhiên Giới lại được chia thành 4 loại là: (a) Tụ Lạc Giới (聚落界, khu vực làng xóm, tụ lạc), tụ lạc (làng xóm) ở đây có hai loại là tụ lạc có thể phân biệt và tụ lạc không thể phân biệt. Theo thuyết của Thập Tụng Luật (十誦律), trường hợp tụ lạc có thể phân biệt thì lấy một tụ lạc làm giới vức. Trong khi đó, theo thuyết của Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律), trường hợp tụ lạc không thể phân biệt thì lấy 63 bộ (một bộ là 6 thước) làm giới vức. (b) Lan Nhã Giới (蘭若界). Nếu không có người mắng pháp phản đối, thì đây là giới vức của nơi nhàn tĩnh, yên lặng; cách cự ly với tụ lạc là một Câu Lô Xá (s: krośa, p: kosa, 拘盧舍, có thuyết cho là tương đương với 600 bộ; Tạp Bảo Tạng Kinh [雜寶藏經] cho là 5 dặm). Trường hợp nếu có người mắng pháp phản đối, thì giới hạn trong vòng 58 bộ (Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa [善見律毘婆沙] cho là tương đương với 7 Bàn Đà [槃陀, đơn vị đo lường của Ấn Độ, một Bàn Đà tương đương 28 khuỷu tay]). Những người phản đối thì tự tác pháp Yết Ma ngoài phạm vi nầy. (c) Đạo Hành Giới (道行界), khi vị tỳ kheo đi du hành, có thể tùy theo nơi mình ở mà lấy ngang dọc một Câu Lô Xá làm giới vức. Trong phạm vi nầy thì không được ăn riêng, Bố Tát riêng. (d) Thủy Giới (水界), tức là kết giới trên tàu thuyền khi rời khỏi đất liền. Tác Pháp Giới thì được phân thành 3 loại: (a) Đại Giới (大界), có các trường hợp người và pháp cùng nhau, pháp và thức ăn cùng nhau, pháp giống mà thức ăn khác. Trong đó, trường hợp người và pháp cùng nhau làm chủ, còn hai loại kia tùy duyên mà khai mở riêng. Người cùng nhau nghĩa là cùng chung một trú xứ, cùng chung một khu vực thuyết giới. Pháp cùng nhau nghĩa là mỗi nửa tháng cùng nhau tập trung tại một trú xứ để tiến hành pháp Bố Tát, thuyết giới. Phạm vi của Đại Giới lấy ngoại giới của một ngôi già lam nào đó làm giới hạn nhỏ nhất, rộng đến 10 dặm cho đến 100 dặm. Kết Đại Giới nầy với mục đích vào lúc chư tăng thuyết giới, v.v., khiến cho tăng chúng trong một khu vực rộng lớn tập trung lại, không ai trái phạm. Phàm Đại Giới nên lấy những sự vật có thể thấy rõ ở địa phương đó như núi, sông, cây cối, v.v., làm ranh giới; đó gọi là giới tướng (界相). Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 17 có nêu ra 8 loại giới tướng là sơn tướng (山相, hình dạng núi), thạch tướng (石相, hình dạng tảng đá), lâm tướng (林相, hình dạng khu rừng), thọ tướng (樹相, hình dạng cây), lộ tướng (路相, hình dạng con đường), giang tướng (江相, hình dạng dòng sông), nghị phong tướng (蟻封相, hình dạng ranh giới đàn kiến), thủy tướng (水相, hình dạng dòng nước). Về hình trạng của Đại Giới, các bộ Luật thuyết bất đồng. Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa quyển 17 lấy 5 loại hình vuông, hình tròn, hình trống, hình bán nguyệt và hình tam giác làm 5 tướng kết giới. Ngoài ra, khi kết Đại Giới, sau khi chúng tăng tập trung trong phạm vi giới tướng, vị tăng sống lâu tại đó nên tuyên xướng giới tướng của bốn phương mà tuyên bố rằng: “Đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới để làm kết giới.” Nghi thức nầy được gọi là xướng giới tướng. (b) Giới Trường (戒塲), trường hợp trong tăng chúng có người phạm giới, tiến hành pháp sám hối, hay thọ giới, v.v., cần phải hợp đủ chúng 4 người cho đến 20 người; để tránh làm cho tăng mệt mỏi, đặc biệt kết Giới Trường hình 4 phương, gọi là tứ phương giới tướng (四方界相, giới tướng bốn phương). Giới Trường nầy có thể chứa tối thiểu 20 người. Theo Giới Trường của Ấn Độ, nguyên là nơi vùng đất trống; trong phạm vi ấy không được lập phòng tăng, nhưng có thể dựng điện Phật cũng như cây Bồ Đề. Lại nữa, vì Giới Trường là nơi truyền trao giới pháp, nên chủ yếu cần phải thô sơ, đơn giản. Ban đầu, Giới Trường được kết ở ngoài Đại Giới, về sau, do vì nạn cướp bóc, nên được phép kết trong phạm vi Đại Giới. Về thứ tự kết giới, trước kết Giới Trường, sau kết Đại Giới. Nếu như đã kết Đại Giới rồi, thì phải giải bỏ Đại Giới, kết lại Giới Trường, rồi mới kết Đại Giới. Nếu Đại Giới và Giới Trường cùng kết, khi giải giới thì phải trước giải Đại Giới rồi kế đến Giới Trường; không được đảo lộn thứ tự. (c) Tiểu Giới (小界), sợ các Tỳ Kheo ác ở trong gây trở ngại mà rút lui, phế bỏ pháp sự, nên đặc biệt giới hạn trong thời gian nào đó, kết một giới vức tạm thời. Loại nầy được chia thành 3 tùy theo trường hợp thọ giới, thuyết giới, Tự Tứ. Bên cạnh đó, Tiểu Giới còn được kết tạm thời khi gặp già nạn, không có giới hạn về phạm vi, hình trạng, v.v. Cho nên, không giống như tác pháp lâu dài của Đại Giới và Giới Trường, mà khi việc hoàn thành thì tiến hành giải giới ngay. Nói chung, trong phần Tự Nhiên Giới của Nhiếp Tăng Giới, tùy theo xứ sở mà nói, có 4 loại bất đồng; tùy theo phạm vi lớn nhỏ mà nói, có 6 loại khác nhau. Đại Giới, Tiểu Giới trong Tác Pháp Giới đều có 3 loại, lại cọng thêm Giới Trường, thành 7 giới. (2) Nhiếp Y Giới, còn gọi là Bất Thất Y Giới (不失衣界), Bất Ly Y Túc Giới (不離衣宿界); tức là hoạch định một phạm vi nào đó để tránh cho các Tỳ Kheo vi phạm sai lầm về việc ly túc (離宿). Ly túc ở đây có nghĩa là chỉ việc Tỳ Kheo xa lìa 3 y của mình mà trú qua đêm ở nơi khác. Nếu đã hoạch định một phạm vi nào đó, trong phạm vi ấy vị Tỳ Kheo có thể không cần phải mang theo 3 y thường xuyên. Điều thứ 2 trong 30 pháp Xả Đọa (s: naisargika-prāyaścittikap: nissaggiya pācittiya, 捨墮, âm dịch là Ni Tát Kì Ba Dạ Đề [尼薩耆波夜提]) của Ba La Đề Mộc Xoa (s: prātimoka, pratimokap: pātimokkha, pāimokkha, 波羅提木叉, ý dịch là Tùy Thuận Giải Thoát [隨順解脫], Xứ Xứ Giải Thoát [處處解脫], v.v.) có quy định về việc ly túc nầy. Loại Nhiếp Y Giới nầy cũng được phần thành 2 loại là Tự Nhiên Giới và Tác Pháp Giới. (3) Nhiếp Thực Giới, tức quy định kết giới nơi cất chứa thức ăn, là giới vức có thể nấu nướng thức ăn, giúp cho vị Tỳ Kheo không phạm phải lỗi gọi là túc chử. Vùng đất được quy định được gọi là tịnh địa (淨地), hay tịnh trù (淨廚). Nếu trong phạm vi nầy mà nấu nướng thì không phạm tội nầy. Thực tế tác pháp của Nhiếp Thực Giới được chia thành hai loại là Thông Kết (通結, kết giới chung) và Biệt Kết (別結, kết giới riêng). Như muốn giải trừ kết giới nói trên, thì khi kết giới, cũng phải nên trải qua tác pháp gọi là Bạch Nhị Yết Ma (s: jñaptidvitiyā-karmavacanā, 白二羯磨, tức một lần thưa bạch và một lần Yết Ma) rồi mới có thể giải trừ. Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Ký (四分律行事鈔資持記, Taishō Vol. 40, No. 1805) quyển Thượng giải thích rằng: “Y Giới giả, nhiếp y dĩ thuộc nhân, linh vô ly túc tội; Thực Giới giả, nhiếp thực dĩ chướng tăng, linh vô túc chử tội; Tăng Giới giả, nhiếp nhân dĩ đồng xứ, linh vô biệt chúng tội (衣界者衣以屬人令無離宿罪食界者攝食以障僧令無宿煮罪僧界者攝人以同處令無別眾罪, Nhiếp Y Giới là giữ gìn y luôn đi theo bên người, khiến cho không phạm tội ly túc; Nhiếp Thực Giới là giữ gìn thức ăn để ngăn chận chư tăng [khỏi sai phạm], khiến cho không phạm tội túc chử; Nhiếp Tăng Giới là giữ gìn mọi người cùng một trú xứ, khiến cho không phạm tội biệt chúng).” Trong Luật Học Phát Nhận (律學發軔, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1125) quyển Trung, phần Kết Giới (結界), có đoạn: “Tỳ Kheo trú xứ, tiên đương kết giới, cái Yết Ma, thuyết giới, thọ giới, trị tội đẳng sự, tất y giới lập; nhược vô giới, tắc chư pháp giai bất năng thành tựu dã (比丘住處先當結界羯磨說戒授戒治罪等事悉依界立若無界則諸法皆不能成就也, trú xứ của Tỳ Kheo, trước phải kết giới, phàm các việc như Yết Ma, thuyết giới, truyền trao giới, trị tội, v.v., đều nương vào giới vức mà lập; nếu không giới vức, thì các pháp đều không thể thành tựu vậy).” Bên cạnh đó, kết giới còn có nghĩa là nữ nhân kết giới (女人結界), tức cấm chỉ người nữ ra vào khu vực quy định. Kết giới cũng chỉ cho phạm vi nội trận (內陣, bộ phận chính giữa an trí tượng Phật) và ngoại trận (外陣, chỉ chu vi của nội trận, hay phần bên ngoài khu vực tham bái) trong Chánh Điện thờ Phật. Ngoài ra, đây cũng chỉ cho pháp kết giới của Mật Giáo. Đối với Mật Giáo, khi tu pháp, để phòng ngừa ma chướng xâm nhập, một địa khu được hoạch định để bảo vệ cho đạo tràng và hành giả; đó gọi là kết giới hay kết hộ (結護, ý là kết giới hộ thân). Pháp kết giới của Mật Giáo có nhiều loại khác nhau. Theo Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chơn Ngôn Kinh (不空罥索神變眞言經, Taishō Vol. 20, No. 1092) quyển 2, Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 1, v.v., có thể lấy hạt cải trắng, rãi bốn phương trên dưới để kết giới. Tô Tất Địa Yết La Kinh (蘇悉地羯羅經, Taishō Vol. 18, No. 893b) quyển Hạ, phẩm Cúng Dường (供養品), thì lấy giới vức địa phương, hư không, tường Kim Cang, thành Kim Cang, v.v., mà kết giới chơn ngôn. Thông thường, kết giới thường dùng của pháp tu Mật Giáo phần lớn y cứ chuẩn vào thuyết của Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 3, Cam Lộ Quân Trà Lợi Bồ Tát Cúng Dường Niệm Tụng Thành Tựu Nghi Quỹ (甘露軍荼利菩薩供養念誦成就儀軌, Taishō Vol. 21, No. 1211), v.v., được phân thành 5 loại như sau: (1) Địa Kết (地結), còn gọi là Kim Cang Quyết (金剛橛), tức là dựng một cây cọc nơi đại địa, gốc cọc đó hoặc bảo là đến tận cùng Kim Luân (s: kāñcana-maṇḍala, 金輪), hay đến tận cùng Thủy Luân (s: jala-maṇḍala, 水輪), v.v., là pháp thứ 6 trong 18 đạo Khế Ấn (契印). (2) Tứ Phương Kết (四方結), còn gọi là Kim Cang Tường (金剛牆), tức lấy bốn phương làm giới vức để kết giới, là pháp thứ 7 trong 18 đạo Khế Ấn. (3) Hư Thất Võng (虛室網), còn gọi là Kim Cang Võng (金剛網); tức lấy lưới Kim Cang giăng ra giữa hư không, mép lưới rũ lên đàn Kim Cang, là pháp thứ 14 trong 18 đạo Khế Ấn. (4) Hỏa Viện (火院), còn gọi là Kim Cang Viêm (金剛炎), lấy lửa cháy rực xoay nhiễu quanh bốn góc hư không, có thể giúp đuổi lui chướng nạn của ma Ba Tuần (s: Māra-pāpman, 波旬), là pháp thứ 15 trong 18 đạo Khế Ấn. (5) Đại Tam Muội Da (大三昧耶), là tổng kết giới ngoại trừ Hỏa Viện vừa nêu trên.
  3. Tứ Thiên Vương (四天王): giữa lưng chừng núi Tu Di (s: Sumeru, 須彌山) có một ngọn núi tên là Do Kiền Đà La (由犍陀羅); núi ấy có 4 đỉnh, bốn vua trời đều ngự mỗi nơi, đều hộ trì một cõi thiên hạ, nên có tên là Hộ Thế Tứ Thiên Vương (護世四天王). Nơi các vị cư trú gọi là Tứ Vương Thiên (四王天), Tứ Thiên Vương Thiên (s: Caturmahārājakāyikās, 四天王天), là một trong Lục Dục Thiên (六欲天, 6 tầng trời Cõi Dục), là tầng đầu tiên của cõi trời; gồm có Trì Quốc Thiên (s: Dhitarāṣṭra, 持國天) ở phương Đông, Tăng Trưởng Thiên (s: Virūhaka, 增長天) ở phương Nam, Quảng Mục Thiên (s: Virūpāka, 廣目天) ở phương Tây và Đa Văn Thiên (s: Dhanada, Vaiśramaa, 多聞天) ở phương Bắc. Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 2, phần Hội Danh Bộ (會名部) thứ 2, dẫn lời của Kinh Trường A Hàm rằng: “Đông phương Thiên Vương danh Đa La Tra, lãnh Càn Thát Bà cập Tỳ Xá Xà thần tướng, hộ Phất Bà Đề nhân; Nam phương Thiên Vương danh Tỳ Lưu Ly, lãnh Cưu Bàn Trà cập Bế Lệ thần, hộ Diêm Phù Đề nhân; Tây phương Thiên Vương danh Tỳ Lưu Bác Xoa, lãnh nhất thiết chư long cập Phú Đơn Na, hộ Cù Da Ni nhân; Bắc phương Thiên Vương danh Tỳ Sa Môn, lãnh Dạ Xoa La Sát tướng, hộ Uất Đơn Việt nhân (東方天王名多羅吒領乾闥婆及毘舍闍神將護弗婆提人南方天王名毘琉璃領鳩槃荼及薜荔神護閻浮提人西方天王名毘留博叉領一切諸及富單那護瞿耶尼人北方天王名毘沙門領夜叉羅剎將護鬱單越人, Thiên Vương ở phương Đông tên là Đa La Tra, thống lãnh thần tướng Càn Thát Bà và Tỳ Xá Xà, hộ trì người cõi Phất Bà Đề; Thiên Vương ở phương Nam tên là Tỳ Lưu Ly, thống lãnh thần Cưu Bàn Trà và Bế Lệ, hộ trì người cõi Diêm Phù Đề; Thiên Vương ở phương Tây tên là Tỳ Lưu Bác Xoa, thống lãnh hết thảy loài rồng và Phú Đơn Na, hộ trì người cõi Cù Da Ni; Thiên Vương ở phương Bắc tên là Tỳ Sa Môn, thống lãnh tướng Dạ Xoa, La Sát, hộ trì người cõi Uất Đơn Việt).” Tỳ Ni Chỉ Trì Hội Tập (毗尼止持會集, Tục Tạng Kinh Vol. 39, No. 709) quyển 14 cho biết rằng: “Đông phương Trì Quốc Thiên Vương, vị năng hộ trì quốc độ, cố cư Tu Di Sơn hoàng kim đóa; Nam phương Tăng Trưởng Thiên Vương, vị năng linh tha thiện căn tăng trưởng, cố cư Tu Di Sơn Lưu Ly đóa; Tây phương Quảng Mục Thiên Vương, vị dĩ tịnh Thiên Nhãn thường quán ủng hộ thử Diêm Phù Đề, cố cư Tu Di Sơn Bạch Ngân đóa; Bắc phương Đa Văn Thiên Vương, vị phước đức chi danh văn tứ phương, cố cư Tu Di Sơn Thủy Tinh đóa (東方持國天王謂能護持國土故居須彌山黃金埵南方增長天王謂能令他善根增長故居須彌山琉璃埵西方廣目天王謂以淨天眼常觀擁護此閻浮提故居須彌山白銀埵北方多聞天王謂福德之名聞四方故居須彌山水晶埵, Trì Quốc Thiên Vương ở phương Đông, được xem như hộ trì quốc độ, nên sống trên đống vàng ròng của núi Tu Di; Tăng Trưởng Thiên Vương ở phương Nam, được xem như có thể khiến cho căn lành của người khác tăng trưởng, nên sống trên đống ngọc Lưu Ly của núi Tu Di; Quảng Mục Thiên Vương ở phương Tây, được xem như lấy Thiên Nhãn thường quán sát ủng hộ cõi Diêm Phù Đề nầy, nên sống trên đống Bạch Ngân của núi Tu Di; Đa Văn Thiên Vương ở phương Bắc, được xem như tiếng tăm phước đức cùng khắp bốn phương, nên sống trên đống Thủy Tinh của núi Tu Di).” Trong Thiền môn có bài tán Tứ Thiên Vương rằng: “Tứ Thiên Vương Tướng, bát Kim Cang Thần, thọ Phật chúc phó trấn sơn môn, Hộ pháp an tăng luân, phong vũ điều thuận, can qua vĩnh thái bình (四天王將八金剛神受佛囑咐鎭山門護法安僧倫風雨調順干戈永太平, bốn Thiên Vương Tướng, tám Kim Cang Thần, vâng Phật dặn bảo giữ sơn môn, Hộ pháp yên tăng thân, mưa hòa gió thuận, binh lửa mãi thái bình).”
  4. Yêu ma (妖魔): yêu tinh ma quái, cũng dùng để chỉ cho thế lực tà ác. Như trong bài thơ Độc Tồ Lai Tập (讀徂徠集) của Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có đoạn: “Tồn chi cảnh hậu thế, cổ giám chiếu yêu ma (存之警後世古鑑照妖魔, còn mãi răn hậu thế, gương cổ chiếu yêu ma).” Hay trong hồi thứ 83 của Tây Du Ký (西游記) lại có đoạn: “Vận dụng thần lực, pháp hàng cửu thập lục động yêu ma, thần thông quảng đại (運用神力法降九十六洞妖魔神通廣大, vận dụng thần lực, pháp hàng phục yêu ma của chín mươi sáu động, thần thông quảng đại).” Hoặc trong Nan Nễ Kế Thấp Phạ Ra Thiên Thuyết Chi Luân Kinh (難你計濕囉天說支輪經, Taishō Vol. 21, No. 1312) có câu: “Hoặc trọng Phật pháp nhạo tu thiện sự, hoặc mộ yêu ma tín tà tạo ác (或重佛法樂修善事或慕妖魔信邪造惡, hoặc xem trọng Phật pháp thích làm việc thiện, hoặc mến mộ yêu ma tin tà làm ác).”
  5. Ly mị (魑魅): thời xưa chỉ cho thế lực thần quái của núi sông có thể gây hại người; cũng chỉ cho quỷ quái, yêu tinh trong gỗ đá hiện ra. Như trong Văn Tuyển (文選), bài Đông Kinh Phú (東京賦) của Trương Hành (張衡, 78-139) nhà Đông Hán, có câu: “Sao ly mị, trác húc cuồng (捎魑魅, trừ yêu quái, chém điên cuồng).” Hay trong Đường Phạn Phiên Đối Tự Âm Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (唐梵翻對字音般若波羅蜜多心經, Taishō Vol. 8, No. 256) cũng có đoạn: “Triêu hành tuyết hiến, mộ túc băng nhai, thọ quải viên nhu, cảnh đa ly mị(朝行雪巘暮宿冰崖樹掛猿猱境多魑魅, sang đi đỉnh tuyết, tối ngủ bờ băng, khỉ vượn chuyền cây, cảnh nhiều quỷ quái).” Hoặc trong Lăng Nghiêm Kinh Thông Nghĩa (楞嚴經通議, Tục Tạng Kinh Vol. 12, No. 279) lại có đoạn: “Hoặc trước quỷ thần, hoặc tao ly mị, tâm trung bất minh, nhận tặc vi tử (或著鬼神或遭魑魅心中不明認賊爲子, hoặc chấp quỷ thần, hoặc gặp yêu quái, trong tâm không sáng, nhận giặc làm con).”
  6. Quỷ thần (鬼神): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho quái vật có đủ uy lực khủng khiếp, có thể biến hóa tự tại; được chia thành hai loại thiện và ác. Trường hợp bảo vệ thế gian hoặc hộ trì Phật pháp như Đại Phạm Thiên Vương (大梵天王), Tam Thập Tam Thiên Vương (三十三天王), Tứ Thiên Vương (四天王), Viêm Ma Vương (炎魔王), Nan Đà Long Vương (難陀龍王), Bạt Nan Đà Long Vương (跋難陀龍王), v.v., đều là quỷ thần thiện. Trường hợp như La Sát (s: rākasa, 羅剎), v.v., thuộc về quỷ thần ác. Còn Dạ Xoa (s: yakap: yakkha, 夜叉) thì thuộc về cả hai thiện và ác. Tuy nhiên, quỷ thần được đề cập trong Phật Giáo là chỉ cho 6 bộ quỷ thần, gồm Càn Thác Bà (s: gandharva, p: gandhabba, 乾闥婆), Dạ Xoa, A Tu La (s, p: asura, 阿修羅), Ca Lâu La (s: garua, 迦樓羅), Khẩn Na La (s: kinara, p: kinnara, 緊那羅), Ma Hầu La Già (s: mahoraga, 摩睺羅伽). Vào thời cổ đại Ấn Độ, từ thời đại Veda trở về sau, trong dân gian rất thịnh hành tín ngưỡng quỷ thần; về sau một bộ phận tín ngưỡng nầy thâm nhập vào Phật Giáo, nổi bậc nhất là Mật Giáo; tỷ dụ như các Minh Vương có hình giận dữ vốn hiển hiện pháp thân của Phật Tỳ Lô Giá Na, cũng thuộc loại quỷ thần. Ngoài ra, trong Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) thuật lại rất rõ chư thiên quỷ thần, và quý vị nầy được Thiên Thai Tông tôn sùng cao độ. Trong bộ Trùng Biên Chư Thiên Truyện (重編諸天傳, Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1658), 2 quyển, do Thích Hành Đình (釋行霆) ở Ô Thú () nhà Tống biên soạn, thâu lục đầy đủ các quỷ thần được đề cập trong kinh điển. Trong bài Nguyên Quỷ (原鬼) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) có giải thích rằng: “Vô thanh dữ hình giả, quỷ thần thị dã (無聲與形者鬼神是也, cái không có tiếng và hình chính là quỷ thần vậy).” Trong Đoạn Trường Tân Thanh có câu rằng: “Mai sau dầu đến thế nào, kìa gương nhật nguyệt nọ dao quỷ thần.” (2) Chỉ chung cho các thần linh, tinh khí. Như trong Sử Ký (史記), phần Ngũ Đế Bổn Kỷ (五帝本紀), có câu: “Lịch nhật nguyệt nhi nghênh tống chi, minh quỷ thần nhi kính sự chi (曆日月而迎送之明鬼神而敬事之, trãi tháng năm mà đón đưa ấy, rõ quỷ thần mà kính thờ ấy).” (3) Chỉ cho hình thể và linh hồn. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Lễ Vận (禮運), có đoạn: “Cố nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, Ngũ Hành chi tú khí dã (故人者其天地之德陰陽之交鬼神之會五行之秀氣也, cho nên con người là đức của trời đất, giao tiếp của âm dương, tụ hội của quỷ thần, khí tốt của Ngũ Hành vậy).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) giải thích rõ rằng: “Quỷ vị hình thể, thần vị tinh linh (鬼謂形體神謂精靈, quỷ là hình thể, thần là linh hồn).”
  7. Tức Trì Quốc Thiên (s: Dhta-rāṣṭra, p: Dhata-raṭṭha, 持國天): còn gọi là Trị Quốc Thiên (治國天), An Dân Thiên (安民天), Thuận Oán Thiên (順怨天); âm dịch là Đề Đầu Lại Tra (提頭賴吒), Trì Lê Đá A Ra Đá (持梨哆阿囉哆), Đề Đa La Tra (提多羅吒). Vị trời nầy thường hộ trì quốc độ, đem lại an vui cho chúng sanh; nên có tên là Trì Quốc Thiên (vị trời hộ trì đất nước), hay Đông Phương Thiên (東方天); là một trong 4 vị Thiên Vương, một trong 16 vị thiện thần. Vị nầy trú tại Càn Đà Sơn (乾陀山), nằm lưng chừng phía Đông Tu Di Sơn (s: Sumeru, 須彌山), giữ gìn quốc độ ở phương Đông. Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 12 cho biết rằng: Phục hữu Đông phương Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương, lãnh Càn Đạp Hòa Thần, hữu đại uy đức, hữu cửu thập nhất tử, tận tự Nhân Đà La, giai hữu đại thần lực (復有東方提頭賴吒天王領乾沓和神有大威德有九十一子盡字因陀羅皆有大神力, lại có Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương ở phương Đông, thống lãnh Càn Đạp Hòa Thần, có uy đức lớn, có chín mươi mốt người con, tất cả tên là Nhân Đà La, đều có thần lực lớn).” Về hình tượng của vị trời nầy, có nhiều thuyết bất đồng, Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 11 giải thích rằng Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương thân dài một khuỷu tay, mang các loại y trời, trang sức vô cùng tinh xảo, kỳ diệu, tương xứng với thân; tay trái vươn ra cầm cây đao, tay phải đưa ra phía trước, trong lòng bàn tay cầm châu báu, trên vật báu đó tỏa hào quang. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Vol. 19, No. 926) cho biết thêm rằng: Đông phương Trì Quốc Đại Thiên Vương, kỳ thân bạch sắc trì Tỳ Bà, thủ hộ bát Phật Đông phương môn (東方持國大天王其身白色持琵琶守護八佛東方門, Trì Quốc Đại Thiên Vương ở phương Đông, thân người màu trắng cầm Tỳ Bà, giữ gìn tám Phật cửa phía Đông).” Trong Kim Cang Bộ Viện (金剛部院) ngoài Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅) của Mật Giáo, vị trời nầy được liệt vào vị trí phía Nam của Đông môn.
  8. Chấn vị (震位): có 3 nghĩa chính. (1) Chỉ phương Đông. Trong chương 5 của Dịch Kinh (易經), Thuyết Quái Truyện (說卦傳) có giải thích rằng: “Vạn vật xuất hồ Chấn; Chấn, Đông phương dã (萬物出乎震東方也, muôn vật xuất từ Chấn, Chấn là phương Đông).” Như trong bài thơ Nhàn Cư Đối Vũ (閑居對雨) của Âm Khanh (陰鏗, khoảng 511-563) nhà Trần thời Nam Triều có câu: “Chấn vị lôi thanh phát, Ly cung điện ảnh phù(震位雷聲發離宮電影浮, phía Đông vang tiếng sấm, cung Nam bóng chớp mờ).” (2) Chỉ cho Đông Cung, tức cung điện của Thái Tử. Như trong bài thơ Thị Yến Đông Cung Ứng Lịnh (侍宴東宮應令) của Vu Trọng Văn (于仲文, 545-613) nhà Tùy có câu: “Đồng lâu sung Chấn vị, ngân bảng tập gia tân (銅樓充震位銀牓集嘉賓, lầu đồng Đông Cung rực, bảng bạc nhóm khách sang).” Hay trong bài Tây Hồ Phú (西湖賦) của Bạch Đình (白珽, 1248-1328) nhà Nguyên lại có câu: “Trí Khôn cung chi hiếu dưỡng, cứ Chấn vị dĩ sanh phiền (致坤宮之孝養震位以生蕃, đặt cung Khôn [phương Tây Nam] để hiếu dưỡng, dựa vị Chấn [Đông Cung] để tốt tươi).” (3) Từ đó, từ nầy được mượn để chỉ cho Thái Tử.
  9. Tức Tăng Trưởng Thiên (s: Virūhaka, p: Virūhaka, 增長天): âm dịch là Tỳ Rô Đà Ca (毘嚕陀迦), còn gọi là Tỳ Lưu Đa Thiên (毘留多天), Tỳ Lưu Ly Thiên (毘流離天), Tỷ Lưu Trà Ca Thiên (鼻溜荼迦天), Tỳ Lâu Lặc Thiên (毘樓勒天), Tỳ Lâu Lặc Ca Thiên (毘樓勒迦天), Tỳ Lâu Lặc Xoa Thiên (毘樓勒叉天), Nam Phương Thiên (南方天, trời ở phương Nam); là một trong 4 vị Thiên Vương, một trong 16 vị thiện thần. Vị nầy trú trong thành Thiện Kiến (善見), nằm lưng chừng phía Nam Tu Di Sơn (s: Sumeru, 須彌山). Thường vị nầy quán sát chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề (s: Jampudīpa, 閻浮提), thống lãnh chúng quỷ thần Cưu Bàn Trà (s: Kumbhāṇḍa, p: Kumbhaṇḍa, 鳩槃荼), Bách Lệ Đa (s: Preta, 荔多), v.v., giữ gìn phương Nam, có thể hang phục tà ác, làm tăng tưởng thiện căn, là vị thiện thần hộ trì Phật pháp. Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 12 cho biết rằng: “Nam phương Tỳ Lâu Lặc Thiên Vương, lãnh chư Long Vương, hữu đại uy đức, hữu cửu thập nhất tử, diệc tự Nhân Đà La, hữu đại thần lực (南方毗樓勒天王領諸龍王有大威德有九十一子亦字因陀羅有大神力, Tỳ Lâu Lặc Thiên Vương ở phương Nam, thống lãnh các Long Vương, có uy đức lớn, có chín mươi mốt người con, cũng tên Nhân Đà La, có thần lực lớn).” Về hình tượng của Tăng Trưởng Thiên, các thuyết không giống nhau. Theo Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 11 giải thích rằng thân của Tỳ Rô Đà Ca dài một khuỷu tay, mang các loại y khác nhau, trang sức vô cùng tinh xảo, kỳ diệu, tương xứng với thân; tay trái cầm cây đao buông xuống, tay phải cầm cây giáo dài, đầu giáo chạm đất. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Tripitaka Vol. 19, No. 926) cho biết thêm rằng: Nam phương Tăng Trưởng Đại Thiên Vương, kỳ thân thanh sắc chấp bảo kiếm, thủ hộ bát Phật Nam phương môn (南方增長大天王其身青色執寶劍守護八佛南方門, Tăng Trưởng Đại Thiên Vương ở phương Nam, thân màu xanh cầm kiếm báu, giữ gìn tám Phật cửa phía Nam).” Trong đồ hình Mạn Trà La của Thai Tạng Giới Mật Giáo, vị nầy ngự ở phía Đông thuộc Nam môn của Kim Cang Bộ Viện (金剛部院). Từ xưa, tín ngưỡng Tứ Thiên Vương đã rất cực thịnh, Trung Quốc cũng như Nhật Bản vẫn còn khá nhiều di phẩm và hình tượng của Tứ Thiên Vương cũng bất đồng. Như tại Thiên Tường Am (千祥庵) ở Lạc Dương (洛陽), tỉnh Hà Nam (河南省), vẫn còn 5 pho tượng Phật sau tường, bên trái là tượng Nhân Vương (仁王), và bên phải là Tăng Trưởng Thiên. Tại Vạn Niên Tự (萬年寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山), tỉnh Triết Giang (浙江省), an trí tượng vị trời nầy ở góc Đông Bắc, tay cầm đàn Tỳ Bà. Tại Thiên Vương Điện (天王殿) của Thiên Đồng Tự (天童寺) trên Thái Bạch Sơn (太白山), tượng vị trời nầy tay cầm kiếm. Còn tượng ở Thiên Vương Điện của Phổ Tế Tự (普濟寺) thuộc Phổ Đà Sơn (普陀山) thì tay cầm con rắn. Tượng ở Thiên Vương Điện của Pháp Vũ Tự (法雨寺) thuộc Phổ Đà Sơn thì tay cầm dù. Trong khi đó, tượng ở Thiên Vương Điện của Bảo Thông Tự (寶通寺) thuộc vùng Võ Xương (武昌), tỉnh Hồ Nam (湖南省), thì tay cầm dù và tháp. Tượng ở Thiên Vương Điện của Quy Nguyên Tự (歸元寺), Hán Khẩu (漢口), thì tay cầm đàn Tỳ Bà. Tôn tượng hiện tồn ở Cư Dung Quan (居庸關) vùng Xương Bình (昌平), tỉnh Hà Bắc (河北省), là tác phẩm thuộc giữa thời nhà Nguyên (, 1271-1368), hai tay cầm kiếm, chân phải gập xuống được con quỷ thiện đỡ lên, chân trái duỗi ra đạp lên con quỷ ác; hình tượng rất hùng tráng. Ngoài ta, tại Nhật Bản, Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Nại Lương (奈良, Nara), Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji) ở Đại Hòa (大和, Yamato), v.v., vẫn còn một số kiệt tác điêu khắc về Tăng Trưởng Thiên.
  10. Ly phương (離方): từ gọi khác của phương Nam. Như trong tác phẩm Trân Châu Thuyền (珍珠船) quyển 4 của Trần Kế Nhu (陳繼儒, 1558-1639) nhà Minh có đoạn: “Hàn Cán phàm tác mã, tất khảo thời nhật, diện phương vị, nhiên hậu định hình cốt mao sắc, đại để dĩ mã vi hỏa súc, nhi Nam vi Ly phương (韓幹凡作馬必考時日面方位然後定形骨毛色大抵以馬爲火畜而南爲離方, phàm khi Hàn Cán làm ngựa, tất phải xem ngày giờ, nhìn phương vị, sau đó mới định hình sắc màu lông cốt, đại để lấy ngựa làm vật hiến cúng, lấy phương Nam làm Ly phương).” Hay trong tác phẩm Đào Hoa Phiến (桃花扇), phần Nhập Đạo (入道), của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh, lại có đoạn: “Nam hữu nam cảnh, thượng ứng Ly phương, khoái hướng Nam sơn chi Nam, tu chơn học đạo (男有男境上應離方快向南山之南修眞學道, nam có cảnh giới của người nam, trên ứng với phương Nam, thích hướng phía Nam của Nam sơn, tu chơn học đạo).”
  11. Tức Quảng Mục Thiên (s: Virūpāka, p: Virūpakkha, 廣目天): âm dịch là Tỷ Lựu Ba A Xoa (鼻溜波阿叉), Bễ Lộ Ba Ha Ngật Xoa (路波呵迄叉), Tỳ Lâu Bà Xoa (毘樓婆叉), Tỳ Rô Bác Xoa (毘嚕博叉); còn gọi là Ác Nhãn Thiên (惡眼天), Xú Mục Thiên (醜目天), Tạp Ngữ Chủ Thiên (雜語主天), Phi Hảo Báo Thiên (非好報天); là một trong 4 vị Thiên Vương, một trong 12 vị trời, một trong 16 vị thiện thần. Vị nầy trú tại lưng chừng phía Tây Tu Di Sơn; thường lấy con mắt trời thanh tịnh để quán sát chúng sanh cõi Diêm Phù Đề, là vị thiện thần hộ pháp ở phương Tây; nên có tên là Tây Phương Thiên (西方天); chuyên xét xử trừng phạt người ác, khiến cho họ sanh khởi đạo tâm. Vị trời nầy cũng là chủ của các loài rồng. Trong Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh (佛母大孔雀明王經, Taishō Vol. 19, No. 982) quyển Thượng cho biết rằng: “Thử Tây phương hữu đại Thiên Vương, danh viết Quảng Mục, thị đại long chủ; dĩ vô lượng bách thiên chư long nhi vi quyến thuộc, thủ hộ Tây phương (此西方有大天王名曰廣目是大龍以無量百千諸而爲眷屬守護西方, phương Tây nầy có vị Thiên Vương lớn, tên là Quảng Mục, là chủ của con rồng lớn; lấy vô lượng trăm ngàn các loài rồng làm quyến thuộc, giữ gìn phương Tây).” Về hình tượng của vị trời nầy, các thuyết không giống nhau. Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 11 giải thích rằng thân của Tỳ Rô Bác Xoa dài một khuỷu tay, mang các loại y khác nhau, trang sức vô cùng tinh xảo, kỳ diệu, tương xứng với thân; tay trái duỗi ra cầm cây giáo, tay phải cầm dây thừng màu đỏ. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Vol. 19, No. 926) cho biết thêm rằng: “Tây phương Quảng Mục Đại Thiên Vương, kỳ thân hồng sắc chấp quyến sách, thủ hộ bát Phật Tây phương môn (西方廣目大天王其身紅色執罥索守護八佛西方門, Quảng Mục Đại Thiên Vương ở phương Tây, thân màu hồng cầm cây roi, giữ gìn tám Phật cửa phía Tây).” Trong đồ hình Mạn Trà La của Thai Tạng Giới Mật Giáo, vị nầy ngự ở Tây môn của Kim Cang Bộ Viện. Tại Trung Quốc, có nhiều loại tạo hình về Quảng Mục Thiên; như tượng khắc trên tường phía Tây Nam Cư Dung Quan (居庸關) ở Hà Bắc thì tay phải cầm con rắn, tay trái đặt trước ngực; chân trái đạp lên lưng con ác quỷ, có vị đứng hầu bên trái lõa thể, cầm cây Chày Kim Cang. Ngoài ra, bức tượng phát hiện tại Thiên Phật Động ở Đôn Hoàng (敦煌) mặc áo lụa màu, hình tượng mang áo giáp da theo thể thức chế tạo của Trung Quốc; lấy áo trời, đồ vàng để trang sức thân thể, tay phải và trái cầm kiếm, hai chân đạp lên con quỷ Dạ Xoa (s: yaka, p: yakkha, 夜叉). Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 12 còn cho biết rằng: “Tây phương Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương, lãnh chư Cưu Bàn Trà quỷ, hữu đại uy đức, hữu cửu thập nhất tử, diệc tự Nhân Đà La, hữu đại thần lực (西方毗樓博叉天王領諸鳩槃茶鬼有大威德有九十一子亦字因陀羅有大神力, Tỳ Lâu Bác Xoa Thiên Vương ở phương Tây, thống lãnh quỷ Cưu Bàn Trà, có uy đức lớn, có chín mươi mốt người con, cùng tên Nhân Đà La, có thần lực lớn).”
  12. Đoài phương (): theo Hậu Thiên Bát Quái (後天八卦), cung Đoài chỉ phương Tây, đối với cung Chấn (). Như trong bài Oanh Võ Phú (鸚鵡賦) của Lý Bách Dược (李百藥, 565-648) nhà Đường có đoạn: “Hỷ linh cầm chi trạc tú, tư phẩm vật dĩ trình tường, hàm kim tinh ư Đoài vức, thể diệu chất ư viêm phương (喜靈禽之擢秀品物以呈祥含金精於兌域體耀質於炎方, vui chim linh ấy xuất sắc, chọn phẩm vật tỏ điềm lành, ngậm tinh linh nơi Tây cõi, thể rạng chất chốn Nam phương).”
  13. Tuyết Lãnh (雪嶺): có 3 nghĩa chính. (1) Đỉnh núi đầy tuyết. Như trong bài Tùng Quân Hành (從軍行) của Lô Luân (盧綸, 739-799) nhà Đường có câu: “Tuyết lãnh vô nhân tích, băng hà túc nhạn thanh (雪嶺無人跡冰河足雁聲, núi tuyết chẳng bóng người, sông băng tiếng nhạn vang).” (2) Chỉ cho thánh địa Phật Giáo hay chỗ ở của chư tăng, đồng nghĩa với Tuyết Sơn (雪山). Như trong bài thơ Hoài Huệ Minh Thiền Sư (懷惠明禪師) của Bào Dong (鮑溶, ?-?) nhà Đường có câu: “Tuyết lãnh vô nhân hựu vấn lai, thập niên Hạ lạp bình an phủ (雪嶺無人又問來十年夏臘平安否, núi tuyết chẳng người đến thăm hỏi, mười năm Hạ lạp bình yên không ?).” Hay trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 89, phần Lâm Tế Tông (臨濟宗), Kinh Môn Khuê Sơn Ngũ Nhãn Dục Thiền Sư (荊門圭山五眼毓禪師), có đoạn: “Kinh hàn tuyết lãnh dĩ đa niên, đổ trước minh tinh tợ nhãn xuyên, Đông Độ Tây Thiên kim cổ hoán, giai đề trụ trượng hiện gia truyền (經寒雪嶺已多年著明星似眼穿東土西天今古煥皆提拄杖現家傳, chịu hàn núi tuyết đã nhiều năm, thấy rõ trước mắt sao sáng quang, Đông Độ Tây Thiên xưa nay tỏ, thảy đều chống gậy hiện gia truyền).” Hoặc trong Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Trai Kỵ Lễ Tán Văn (天台智者大師齋忌禮讚文, Taishō Vol. 46, No. 1948) lại có câu rằng: “Hà duyên kim nhật ngẫu đắc nhân thân, hiệu Tuyết Lãnh xuất gia, trị Thiên Thai di giáo (何緣今日偶得人身雪嶺出家値天台遺敎, duyên gì hôm nay may được thân người, bắt chước Núi Tuyết [đức Phật Thích Ca] xuất gia, gặp được Thiên Thai [Trí Khải Đại Sư] giáo pháp).” (3) Chỉ cho Dân Sơn (岷山)ở Tứ Xuyên (四川). Như trong bài thơ Đỗ Công Bộ Thục Trung Ly Tịch (杜工部蜀中離席) có câu: “Tuyết lãnh vị quy thiên ngoại sứ, Tùng Châu do trú điện tiền quân (雪嶺未歸天外使松州猶駐殿前軍, núi Dân chửa về ngàm dặm sứ, Tùng Châu còn đóng bao cấm quân).”
  14. Tỳ Sa Môn Thiên (s: Vaiśravaa, p: Vessavaa, 毘沙門天): âm dịch là Phệ Thất La Ma Noa (室羅摩拏), Tỳ Xá La Môn (毘舍羅門), Tì Sa Môn (鞞沙門), Tỳ Sa Môn (毘沙門); còn gọi là Phổ Văn Thiên (普聞天), Chủng Chủng Văn Thiên (種種聞天); là một trong Tứ Thiên Vương, một trong 12 vị trời, vị thần thủ hộ ở phương Bắc của Diêm Phù Đề. Vị nầy trú tại phía Bắc của tầng thứ tư Tu Di Sơn, thống lãnh chúng quỷ Dạ Xoa và La Sát, kiêm thủ hộ ba châu khác. Do thường thủ hộ đạo tràng, lắng nghe Phật pháp, nên vị nầy có tên là Đa Văn (, nghe nhiều). Vị trời nầy được tôn thờ ở địa phương Tây Bắc Ấn Độ, cũng có khi được xem như là thần chiến thắng, nên được tôn sùng cao độ. Hình tượng phổ cập của Tỳ Sa Môn Thiên thể hiện hình thần vương, chân đạp lên hai con quỷ; tay trái cầm bảo tháp, tay phải cầm cây gậy báu. Ngoài ra, hình tượng của vị nầy còn có hai thân, 4 tay, 10 tay, v.v. Trong số tượng 12 vị trời, chỉ riêng tượng vị nầy được tôn sùng mà thôi. Bên cạnh đó, vị nầy còn ban cho phước đức, nên được kính ngưỡng là một trong 7 vị Phước Thần. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Vol. 19, No. 926) cho biết rằng: “Bắc phương Đa Văn Đại Thiên Vương, kỳ thân lục sắc chấp bảo xoa, thủ hộ bát Phật Bắc phương môn (北方多聞大天王其身綠色執寶叉守護八佛北方門, Đa Văn Đại Thiên Vương ở phương Bắc, thân màu xanh cầm chĩa báu, giữ gìn tám Phật cửa phía Bắc).” Hay Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh (佛母大孔雀明王經, Taishō Vol. 19, No. 982) quyển Thượng cho biết thêm rằng: “Bắc phương hữu đại Thiên Vương, danh viết Đa Văn, thị Dược Xoa chủ; dĩ vô lượng bách thiên Dược Xoa nhi vi quyến thuộc, thủ hộ Bắc phương (北方有大天王名曰多聞是藥叉主以無量百千藥叉而爲眷屬守護北方, phương Tây có vị Thiên Vương lớn, tên là Đa Văn, là chủ của Dược Xoa; lấy vô lượng trăm ngàn các loài Dược Xoa làm quyến thuôc, giữ gìn phương Bắc).” Căn cứ vào Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 12 cho biết rằng nước Vu Điền (s: Ku-stana, 于闐) vô cùng tín ngưỡng vị trời nầy. Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 1 còn cho biết rằng trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bảo (天寶, 742-756) của vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường, tại Trung Quốc cũng có tín ngưỡng nầy. Bức tượng Tỳ Sa Môn Thiên tại Thiên Phật Động ở Đôn Hoàng (敦煌) mặc áo lụa màu, vừa mới được khai quật. Về phía Nhật Bản, tại An Mã Tự (鞍馬寺, Kurama-dera) ở Kyoto có tượng Đâu Bạt Tỳ Sa Môn (兜跋毘沙門); sau khi Mật Giáo được truyền vào, tượng nầy được xem như vị thần đơn độc, nên được tôn sùng tối đa. Tượng Đa Văn Thiên (niên đại nhà Đường) hiện tồn tại Giáo Vương Hộ Quốc Tự (敎王護國寺, Kyōōgokoku-ji, tức Đông Tự [東寺, Tō-ji]) ở kinh đô Kyoto, tương truyền là tượng thủ hộ vương thành, nên được đặt trên lầu cổng La Thành.
  15. Khảm (): trong Kinh Dịch, Khảm là tên của một quẻ, là một trong Bát Quái (八卦), tượng trưng cho sự hiểm nạn, đại biểu cho nước, là quẻ của phương Bắc. Như trong Dịch Kinh (易經), Thuyết Quái Truyện (說卦傳), có giải thích rằng: “Khảm giả, thủy dã; chánh Bắc phương chi quái dã; Lao Quái dã; vạn vật chi sở quy dã (坎者水也正北方之卦也勞卦萬物之所歸也, Khảm là nước; là quẻ của hướng chánh Bắc, là Lao Quái, là nơi quay về của vạn vật).” Trong tác phẩm Đào Hoa Phiến (桃花扇), phần Nhập Đạo (入道), của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh, có đoạn: “Nữ hữu nữ giới, hạ hợp Khảm đạo, khoái hướng Bắc sơn chi Bắc, tu chơn học đạo (女有女界下合坎道快向北山之北修眞學道, nữ có cảnh giới của người nữ, dưới hợp với phương Bắc, thích hướng phía Bắc của Bắc sơn, tu chơn tu đạo).”
  16. Nhâm phương (壬方): Thuyết Văn (說文) giải thích rằng: “Nhâm vị, Bắc phương dã (壬位、北方也, vị trí của Nhâm là phương Bắc).” Như vậy, Nhâm phương là cách gọi khác của phương Bắc.