46. Khải Minh Lộ Sớ

 

Nguyên văn:

 

啟冥路疏

 

伏以

幽顯提攜、賴菩薩弘開慧願、康莊護衛、仗神功默運慈心、俯瀝丹忱、仰干玄鑒。拜疏爲

大南國...寺奉

佛設供啟冥路移棺入塔事。今法子孝徒...惟日仰干尊德、俯鑒微誠

伏爲圓寂徽號和尚之覺靈。

窃念、俄穿舊縠、徘徘雲路以何之、浮囊、歷歷金塸其誰也。兹者卜以良晨、正當擧駕、占來吉日、用致遷棺、聊陳禮薄之儀、具疏一函拜白。

南無幽冥敎主本尊地藏王菩薩座下。

恭請五方五帝開通道路遮囉遏塞、道路等神、願鑒菲儀、廣加密佑。

伏願、一誠可格、萬境皆通、爰棺行、俾繩索堅牢若故、仍張器杖、祈途路坦蕩泰然、仰憑菩薩以加怜、俯藉神功而永固。謹疏。

 

Phiên âm:

 

KHẢI MINH LỘ1 SỚ

 

Phục dĩ

U hiển2 đề huề, lại Bồ Tát hoằng khai huệ nguyện; khang trang hộ vệ, trượng thần công mặc vận từ tâm; phủ lịch đơn thầm, ngưỡng can huyền giám.

Bái sớ vị: Đại Nam Quốc … mỗ tự phụng Phật thiết cúng khải minh lộ di quan nhập tháp sự. Kim Pháp tử hiếu đồ …, duy nhật ngưỡng can tôn đức, phủ giám vi thành.

Phục vị: Viên tịch3 huy hiệu Hòa Thượng chi giác linh.

Thiết niệm: Nga xuyên cựu hộc, bồi bồi vân lộ4 dĩ hà chi; đâu hạ phù nang,5 lịch lịch kim âu kỳ thùy dã. Tư giả bốc dĩ lương thần, chánh đương cử giá; chiêm lai cát nhật, dụng trí thiên quan; liêu trần lễ bạc chi nghi, cụ sớ nhất hàm bái bạch.

Nam Mô U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát tọa hạ.

Cung thỉnh: Ngũ Phương Ngũ Đế6 Khai Thông Đạo Lộ Già Ra Át Tắc, đạo lộ đẳng thần; nguyện giám phỉ nghi, quảng gia mật hựu.

Phục nguyện: Nhất thành khả cách, vạn cảnh giai thông; viên cử quan hành, tỷ thằng sách kiên lao nhược cố; nhưng trương khí trượng, kỳ đồ lộ thản đãng thái nhiên; ngưỡng bằng Bồ Tát dĩ gia lân, phủ tạ thần công nhi vĩnh cố. Cẩn sớ.

 

Dịch nghĩa:

 

SỚ CÚNG KHAI MỞ MINH LỘ

 

Cúi nghĩ:

Ẩn hiện song hành, cậy Bồ Tát mở bày thệ nguyện; khang trang hộ vệ, nhờ thần công thầm vận từ tâm; cúi trãi tấc thành, ngưỡng mong chứng giám.

Lạy Sớ tâu: Việc Chùa …, nước Đại Nam, thờ Phật, thiết cúng khai mở minh lộ, di quan nhập tháp. Nay Pháp tử … hiếu đồ … hôm nay ngưỡng trông tôn đức, chứng giám lòng thành.

Cúi vì: Giác linh Hòa Thượng viên tịch (huy hiệu) …

Nép nghĩ: Thoáng thay xác cũ, thẩn thờ mây nẻo biết tìm đâu; mất hẳn tôn sư, mãi mãi mộ phần còn ai nữa. Nay lúc chọn phải giờ lành, đúng dịp cử giá; xem nhằm ngày tốt, dùng để di quan; tạm bày lễ mọn khoa nghi, đủ sớ một phong thưa lạy:

Kính lạy đức bổn tôn Bồ Tát Địa Tạng Vương, giáo chủ cõi u minh, chứng giám cho.

Cung thỉnh Ngũ Đế ở năm phương, Khai Thông Đạo Lộ Già Ra Át Tắc, các thần đạo lộ, chứng giám nghi chay, thầm thêm giúp đỡ.

Cúi mong: Tâm thành cảm cách, vạn cảnh đều thông; nay cử quan đi, khiến thừng buộc vững chắc như cũ; giăng bày đòn gậy, cầu đường sá bằng phẳng hanh thông; ngưỡng trông Bồ Tát ấy xót thương, cúi tạ thần công luôn kiên cố. Kính dâng Sớ.

 

Chú thích:

  1. Minh lộ (冥路): đồng nghĩa với minh đồ (冥途), nghĩa là con đường tối tăm (thường ví cho Địa Ngục), hay còn có nghĩa ám chỉ lúc chết. Như trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (敦煌變文集), phần Đại Mục Càn Liên Minh Gian Cứu Mẫu Biến Văn (大目乾連冥間救母變文) có đoạn: “Hồn phách phiêu lưu minh lộ gian, nhược vấn Tam Đồ hà xứ khổ, hàm ngôn Ngũ Đạo quỷ môn quan (魂魄飄流冥路間、若問三塗何處苦、咸言五道鬼門關, hồn phách phiêu lưu u tối gian, nếu hỏi Ba Đường nơi nào khổ, đều cho Năm Nẻo quỷ môn quan).” Hay như trong bài từ Thu Nhụy Hương Dẫn (秋蕊香引) của Liễu Vĩnh (柳永, khoảng 987-1053) nhà Tống lại có câu: “Hướng tiên đảo, quy minh lộ, lưỡng vô tiêu tức (向仙島、歸冥路、兩無消息, người thì hướng đảo tiên, người thì trở về minh lộ, cả hai đều mất tin tức).” Trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 865, bài Tặng Đậu Thừa (贈竇丞) của Lưu Khái (劉溉, ?-?) nhà Đường có đoạn: “Minh lộ tra tra nhân bất tri, bất dụng khổ thuyết sử nhân bi, hỷ đắc phùng quân truyền gia tín, hậu hội mang mang hà xứ kỳ (冥路杳杳人不知、不用苦說使人悲、喜得逢君傳家信、後會茫茫何處期, lối mờ mù mịt người có hay, chẳng cần giải thuyết khiến buồn lo, may gặp được anh tin nhà nhắn, mai nầy mênh mang chốn nào đây ?).” Về nghĩa chỉ lúc gần chết, trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), thiên Liên Hương (蓮香) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh có đoạn: “Liên nhập viết: ‘Quân đãi hỉ, thị chơn quỷ vật, nật kỳ mỹ nhi bất tốc tuyệt, minh lộ cận hỉ’ (蓮入曰:君殆矣、是眞鬼物、暱其美而不速絕、冥路近矣, Liên Hương đi vào nói: ‘Ngươi nguy rồi ! Quả đúng là quỷ vật thứ thiệt, gần cái đẹp mà không dứt sớm, cái chết gần kề rồi đó !’).” Hay trong Thu Nhụy Hương Dẫn (秋蕊香引) của Liễu Vĩnh (柳永, khoảng 987-1053) nhà Tống lại có câu: “Hướng tiên đảo, quy minh lộ, lưỡng vô tiêu tức (向仙島、歸冥路、兩無消息, hướng tiên đảo, về Âm Phủ, cả hai chẳng âm tín).” Hoặc trong Đường Đại Tiến Phước Tự Cố Tự Chủ Phiên Kinh Đại Đức Pháp Tạng Hòa Thượng Truyện (唐大薦福寺故寺主翻經大德法藏和尚傳, Taishō Vol. 50, No. 2054) cũng có đoạn: “Chí Hàm Hưởng nguyên niên, Vinh Quốc phu nhân yếm quy minh lộ (至咸亨元年、榮國夫人奄歸冥路, đến năm đầu [670] niên hiệu Hàm Hưởng, Vinh Quốc phu nhân bỗng nhiên qua đời).”
  2. U hiển (幽顯): ẩn hiện, giống như âm dương, cũng chỉ cho cõi dương và cõi âm. Như trong bài Vi Trình Xử Bậc Từ Phóng Lưu Biểu (爲程處弼辭放流表) của Trần Tử Ngang (陳子昂, 661-702) nhà Đường có đoạn: “Tồn giả lưu ly, vong giả ai thống, tân toan u hiển, vi thế sở bi (存者流離、亡者哀痛、辛酸幽顯、爲世所悲, người còn xa lìa, người mất đau xót, chua cay ẩn hiện, nỗi buồn của đời).” Hay trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển 1 cũng có đoạn: “Nhất thiết thánh chúng, hà sa phẩm loại, u hiển thánh phàm, tất trượng chơn hương, phổ đồng cúng dường (一切聖眾、河沙品類、幽顯聖凡、悉仗眞香、普同供養, hết thảy thánh chúng, hà sa các loài, ẩn hiện thánh phàm, đều nhờ chơn hương, khắp đồng cúng dường).”
  3. Viên tịch (圓寂): ý dịch của Phạn ngữ parinirvāa (s.); cựu dịch là diệt độ (滅度), nhập diệt (入滅); còn gọi làquy tịch (歸寂), thị tịch (示寂), nhập tịch (入寂); đồng nghĩa với Niết Bàn (涅槃), thiên hóa (遷化), thuận thế(順世), quy chơn (歸眞); nghĩa là tròn đầy các đức, diệt hết các điều ác. Sự qua đời của Đức Phật nghĩ là thâu hóa dụng của cõi mê mà nhập vào cảnh giới giác ngộ; xả đi cảnh tạp nhiễm của Hữu Lậu mà nhập vào cảnh giới Niết Bàn vắng lặng Vô Lậu; nên gọi là viên tịch. Từ nầy cũng có nghĩa xa lìa cái khổ của sanh tử, đạt đến sự an lạc tịnh diệu. Về sau, chư vị tăng ni qua đời cũng gọi là viên tịch. Trong Bát Nhã Tâm Kinh Giải Nghĩa (般若心經解義, Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 570) định nghĩa rằng: “Niết Bàn, thử vân viên tịch, đức vô bất bị xưng viên, chướng vô bất tận xưng tịch (涅槃、此云圓寂、德無不僃稱圓、障無不盡稱寂, Niết Bàn, ở đây [Trung Hoa] gọi là viên tịch, đức không nơi nào mà không đầy đủ gọi là viên, chướng không chỗ nào mà không hết gọi là tịch).” Như trong Phật Pháp Kim Thang Biên (佛法金湯編, Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 8, phần Lý Bạch (李白), có đoạn: “Bản tâm nhược hư không, thanh tịnh vô nhất vật, phần đãng dâm nỗ si, viên chiếu liễu kiến Phật (本心若虛空、清淨無一物、焚蕩淫怒癡、圓照了見佛, tâm gốc như hư không, trong sạch không một vật, đốt dâm đãng giận si, chiếu rõ rồi thấy Phật).” Hay trong Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (禪林僃用清規, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250) quyển 9, phần Phúng Kinh (諷經), cũng có đoạn: “Thượng lai phúng kinh công đức, phụng vị tân viên tịch mỗ giáp Thượng Tọa (上來諷經功德、奉爲新圓寂某甲上座, khởi đầu tụng kinh công đức, kính vì Thượng Tọa … mới viên tịch).” Hoặc trong Thiền Đăng Thế Phổ (禪燈世譜, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1601) quyển 1, phần Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思), lại có đoạn rằng: “Ấu tuế xuất gia, cư Thanh Nguyên sơn Tĩnh Cư Tự; Huyền Tông Khai Nguyên nhị thập bát niên thập nhất nguyệt thập tam nhật viên tịch, thụy Hoằng Tế, tháp viết Quy Tịch (幼歲出家、居青原山靜居寺、玄宗開元二十八年十一月十三日圓寂、諡弘濟、塔曰歸眞, sư tuổi nhỏ xuất gia, sống ở Tĩnh Cư Tự thuộc Thanh Nguyên sơn; vào ngày 13 tháng 11 năm thứ 28 [740] niên hiệu Khai Nguyên đời vua Huyền Tông [tại vị 712-756], sư viên tịch, thụy hiệu là Hoằng Tế, tháp tên là Quy Tịch).”
  4. Vân lộ (雲路): đường mây; có mấy nghĩa khác nhau. (1) Giữa khoảng mây, trên trời. Như trong bài thơ Du Nhiếp Sơn Thê Hà Tự (游攝山栖霞寺) của Giang Tổng (江總, 519-594) nhà Tùy có câu: “Yên nhai khế cổ thạch, vân lộ bài chinh điểu (煙崖憩古石、雲路排征鳥, khói núi nghỉ đá cổ, trên trời chim bay xa).” (2) Con đường trên trời, con đường tiên bay. Như trong Thủy Kinh Chú (水經注), phần Miện Thủy Thượng (沔水上), của Lịch Đạo Nguyên (道元, 470-527) nhà Bắc Ngụy, có đoạn: “Công Phòng thăng tiên chi nhật, tế chi hành vị hoàn, bất hoạch đồng giai vân lộ (公房升仙之日、婿之行未還、不獲同階雲路, ngày Công Phòng lên cõi tiên, người con rễ đi chưa về, không được cùng bước lên đường trời).” (3) Chỉ con đường hẹp trên núi cao. Như trong bài thơ Tặng Ích Phủ Bùi Lục Sự (贈益府裴錄事) của Lô Chiêu Lân (盧照鄰, 636-695) nhà Đường có câu: “Thanh sơn vân lộ thâm, đơn hác nguyệt hoa lâm (青山雲路深、丹壑月華臨, núi xanh nẻo mây sâu, hang đỏ trăng điểm hoa).” (4) Chỉ lộ trình xa xôi, mù mịt. Như trong bài thơ Đăng Phục Châu Nam Lâu (登復州南樓) của Tiền Khởi (錢起, 710-782) nhà Đường có câu: “Cố nhân vân lộ cách, hà xứ ký Dao Hoa (故人雲路隔、何處寄瑤華, cố nhân đường mây cách, chốn nào trọ Dao Hoa [tức Ngọc Hoa Cung]).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 3, phần Tiểu Tường (小祥), lại có đoạn: “Dục tư ngô phụ chi vân lộ, tu bằng ngã Phật chi phong quy (欲資吾父之雲路、須憑我佛之風規, muốn giúp thân phụ lên đường mây, nên nương đức Phật ấy phong quy).”
  5. Phù nang (浮囊): túi không khí, tức áo phao ngày nay; là vật cần thiết cho người qua biển không bị chìm đắm, chết đuối. Như trong Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義, Taishō Vol. 54, No. 2128) quyển 3 định nghĩa rằng: “Kim kinh ngôn phù nang giả, khí nang dã; dục độ đại hải, bằng thử khí nang khinh phù chi lực dã (今經言浮囊者、氣囊也、欲渡大海、憑此氣囊輕浮之力也, nay trong kinh nói về phù nang, là túi không khí; muốn qua biển lớn, nhờ vào sức nhẹ nỗi lên của túi phao nầy).” Từ đó, phù nang được dùng để chỉ cho một vật vô cùng cao quý, giá trị còn hơn cả thân mạng con người, có thể giúp hành giả vượt qua biển sanh tử luân hồi. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 375) quyển 11, phẩm Thánh Hạnh (聖行品) thứ 19, đề cập đến câu chuyện có người cầm túi phao nầy muốn đi qua biển lớn; lúc ấy có con quỷ La Sát đến cầu xin túi phao, người ấy trả lời rằng: “Nhữ ninh sát ngã, phù nang phả đắc (汝寧殺我、浮囊叵得, người tha giết tôi, chứ túi phao thì không thể được).” Và túi phao nầy được ví như việc hành trì cấm giới, oai nghi không sai khuyết. Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 87, phần Thuật Ý Bộ (述意部), đưa ra các ví dụ như: “Thiện liệu chúng bệnh, dụ chi lương y; năng tiêu cơ khát, dụ chi Cam Lộ; tiếp tế trầm nịch, dụ chi kiều lương; vận độ đại hải, dụ chi phù nang; chiếu trừ hôn ám, dụ chi đăng quang (善療眾病、喻之良醫、能消飢渴、喻之甘露、接濟沉溺、喻之橋梁、運度大海、喻之浮囊、照除昏暗、喻之燈光, khéo chữa các bệnh, dụ cho thầy thuốc; tiêu trừ đói khát, dụ cho Cam Lộ; tiếp cứu chìm đắm, dụ cho cầu đường; chở qua biển lớn, dụ cho túi phao; chiếu trừ tăm tối, dụ cho đèn sáng).” Hay trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Tăng Chú (沙彌律儀要略增註, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1118) quyển 1, phần Thượng Thiên Giới Luật Môn (上篇戒律門), có đoạn: “Giới thị việt khổ hải chi phù nang, trang nghiêm Pháp Thân chi Anh Lạc, cố tu cẩn thận(戒是越苦海之浮囊、莊嚴法身之瓔珞、故須謹愼, giới là túi phao vượt qua biển khổ, ngọc Anh Lạc để trang nghiêm Pháp Thân, phải nên cẩn thận).”
  6. Ngũ Phương Ngũ Đế (五方五帝): còn gọi là Ngũ Phương Thần (五方神); là tên gọi của các vị Thiên Đế của 5 phương trong thần thoại Trung Quốc, về sau được Đạo Giáo tôn thờ như là thần. Theo Vân Cấp Thất Thiêm (七簽) quyển 18, phần Lão Tử Trung Kinh (老子中經), của Đạo Giáo cho biết, Đông phương Thương Đế (蒼帝) là Đông Hải Quân (東海君), Nam phương Xích Đế (赤帝) là Nam Hải Quân (南海君), Tây phương Bạch Đế (白帝) là Tây Hải Quân (西海君), Bắc phương Hắc Đế (黑帝) là Bắc Hải Quân (北海君), và Trung ương Hoàng Đế Quân (黃帝君). Cổ Công Sảng (公彥, ?-?) nhà Đường giải thích rằng: “Ngũ Đế giả, Đông phương Thanh Đế Linh Uy Ngưỡng, Nam phương Xích Đế Xích Tiêu Nỗ, Trung ương Hoàng Đế Hàm Xu Nữu, Tây phương Bạch Đế Bạch Chiêu Củ, Bắc phương Hắc Đế Diệp Quang Kỷ (五帝者、東方青帝靈威仰、南方赤帝赤熛怒、中央黃帝含樞紐、西方白帝白招矩、北方黑帝葉光紀, Ngũ Đế là Thanh Đế Linh Uy Ngưỡng ở phương Đông, Xích Đế Xích Tiêu Nỗ ở phương Nam, Hoàng Đế Hàm Xu Nữu ở phương giữa, Bạch Đế Bạch Chiêu Củ ở phương Tây, Hắc Đế Diệp Quang Kỷ ở phương Bắc).” Đạo Giáo lấy phương Đông Thanh Long (青龍) là Thanh Đế, phương Tây Bạch Hổ (白虎) là Bạch Đế, phương Nam Châu Tước (朱雀) là Xích Đế, phương Bắc Huyền Võ (玄武) là Hắc Đế, phương giữa Kỳ Lân (麒麟) là Hoàng Đế.