56. Kỳ Đảo Bảo An Sớ
Nguyên văn:
祈祷保安疏
伏以
慈雲靉靆
大南國皇城內長寧宮奉
佛修香諷經祈病保安延齡迎祥集福事。今齋主...、維日仰干蓮眼之舒光、俯鑒葵情之篤懇、恭祝當今皇帝...
言念、生逢顯世、位正金門、福基固集禎祥、毎賴天慈之保定、命座康强廸吉、全資佛聖以扶持、欲冀延齡、必蒙加佑。兹者...天佳節、...月良辰、淨宮裏以修香、向座前而致懇、諷誦...
伏願、能仁普濟、大覺垂慈、俾弟子...累生業障以冰消、一切善根而成就、諸緣未斷、早遂輕安、大限難逃、徑登安養。謹疏。
又
奉佛修香諷經祈滅罪消愆徃生樂國、維日香燃柏子、花獻曼陀、仰干大覺之尊、俯鑒微誠之懇。
伏惟、...姓名年庚...、現攖病症、身体不安、或業障以加臨、或宿緣之所致、匪憑佛力、曷得解除、謹涓本月是日、恭臨梵宇、虔仗禪和、宣揚法事、諷誦...
伏願、能仁普濟、大覺垂慈、俾弟子...(如前)
Phiên âm:
KỲ ĐẢO BẢO AN SỚ
Phục dĩ:
Từ vân ái đãi.
Đại Nam Quốc Hoàng Thành Nội Trường Ninh Cung phụng Phật tu hương phúng kinh kỳ bệnh bảo an diên linh nghênh tường tập phước sự. Kim trai chủ … duy nhật ngưỡng can Liên Nhãn chi thư quang, phủ giám quỳ tình chi đốc khẩn.
Cung chúc Đương Kim Hoàng Đế ...
Ngôn niệm: Sanh phùng hiển thế, vị chánh kim môn; phước cơ cố tập trinh tường, mỗi lại thiên từ chi bảo định; mạng tọa khang cường địch cát, toàn tư Phật Thánh dĩ phò trì; dục kí diên linh, tất mông gia hựu. Tư giả … thiên giai tiết, … nguyệt lương thần; tịnh cung lí dĩ tu hương, hướng tòa tiền nhi trí khẩn; phúng tụng …
Phục nguyện:
Năng Nhân phổ tế, Đại Giác thùy từ; tỷ đệ tử … lũy sanh nghiệp chướng1 dĩ băng tiêu, nhất thiết thiện căn nhi thành tựu; chư duyên vị đoạn, tảo toại khinh an; đại hạn nan đào, kính đăng An Dưỡng. Cẩn sớ.
Hựu
Phụng Phật tu hương phúng kinh kỳ diệt tội tiêu khiên vãng sanh Lạc Quốc; duy nhật hương nhiên Bách Tử, hoa hiến Mạn Đà; ngưỡng can Đại Giác chi tôn, phủ giám vi thành chi khẩn.
Phục duy: … tánh danh, niên canh …
hiện anh bệnh chứng, thân thể bất an; hoặc nghiệp chướng dĩ gia lâm, hoặc túc duyên2 chi sở trí; phỉ bằng Phật lực, hạt đắc giải trừ; cẩn quyên bổn nguyệt thị nhật, cung lâm Phạm vũ; kiền trượng Thiền hòa,3 tuyên dương pháp sự; phúng tụng …
Phục nguyện: Năng Nhân phổ tế, Đại Giác thùy từ; tỷ đệ tử … (như tiền).
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG CẦU ĐẢO BÌNH AN
Cúi nghĩ:
Mây từ ngùn ngụt
Việc Trường Ninh Cung Hoàng Thành Nội, nước Đại Nam, thờ Phật, dâng hương, tụng kinh cầu bệnh an lành, thêm thọ, đón lành gom phước. Nay trai chủ … hôm nay ngưỡng trông Mắt Sen ấy phóng quang, cúi chứng lòng thành bao khẩn thiết.
Cung chúc Đương Kim Hoàng Đế ...
Nép nghĩ: Sanh đời vinh hiển, ngôi vị vàng son; nền phước kiên cố tốt lành, lại mong trời thương ấy giữ vững; mạng tọa hùng cường phúc tới, đều nhờ Phật Thánh thảy đỡ nâng; muốn được sống lâu, tất mong trợ giúp. Nay lúc trời … tiết đẹp, tháng … giờ lành; sạch cung nội để dâng hương, hướng trước tòa mà thành khẩn; trì tụng …
Cúi mong: Năng Nhân cứu khắp, Đại Giác ban từ; khiến đệ tử … bao đời nghiệp chướng thảy tiêu tan, hết thảy căn lành đều thành tựu; các duyên chưa dứt, sớm được nhẹ nhàng; đại hạn khó qua, sớm lên An Dưỡng. Kính dâng Sớ.
Lại (có lòng văn Sớ khác)
Thờ Phật, dâng hương, tụng kinh cầu diệt tội tiêu khiên, vãng sanh Lạc Quốc; hôm nay hương xông Bách Tử, hoa cúng Mạn Đà; ngưỡng trông Đại Giác chí tôn, cúi chứng tấc thành khẩn thiết.
Cúi nghĩ: Tên họ …, niên canh …, hiện mang chứng bệnh, thân thể bất an; hoặc nghiệp chướng lại đến đây, hoặc duyên trước mà mắc phải; chẳng nhờ Phật lực, sao được giải trừ; kính chọn tháng nầy ngày ấy, đến chốn tự viện; nương sức Thiền tăng, tuyên dương pháp sự; trì tụng …
Cúi mong: Năng Nhân cứu khắp, Đại Giác ban từ; khiến đệ tử … (như trước)
Chú thích:
- Nghiệp chướng (s: karmāvaraṇa, 業障): còn gọi là nghiệp lụy (業累), là một trong 3 chướng, một trong 4 chướng; nghĩa là ác nghiệp do ba nghiệp thân, miệng và ý của chúng sanh tạo ra có thể gây chướng ngại chánh đạo, nên có tên gọi như vậy. Theo Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 11, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 115, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 17, v.v., trong các ác nghiệp, lấy 5 nghiệp Vô Gián làm nghiệp chướng, làm trở ngại lớn nhất đối với sự tu hành Thánh đạo. Đó là: (1) hại mẹ, (2) hại cha, (3) hại bậc A La Hán, (4) phá sự hòa hợp của tăng, (5) làm thân Phật chảy máu với ác tâm. Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 2, phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm (世主妙嚴品) thứ 1, có câu: “Nhược hữu chúng sanh nhất kiến Phật, tất sử tịnh trừ chư nghiệp chướng (若有眾生一見佛、必使淨除諸業障, nếu có chúng sanh một lần thấy được Phật, tất khiến cho trừ sạch các nghiệp chướng).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 60, phần Đại Phương Đẳng Kinh Thất Phật Thuyết Diệt Tội Chú (大方等經七佛說滅罪咒), lại có đoạn: “Như thị thần chú, cụ đại uy lực, năng thọ trì giả, nghiệp chướng tiêu trừ (如是神咒、具大威力、能受持者、業障消除, thần chú như vậy, đủ oai lực lớn, người thường thọ trì, nghiệp chướng tiêu trừ).” Hoặc trong Giáo Ngoại Biệt Truyền (敎外別傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1580) quyển 4, phần Ngưu Đầu Sơn Pháp Dung Thiền Sư (牛頭山法融禪師), cũng có đoạn rằng: “Nhất thiết phiền não nghiệp chướng, bổn lai không tịch, nhất thiết nhân quả giai như mộng huyễn, vô Tam Giới khả xuất, vô Bồ Đề khả cầu (一切煩惱業障、本來空寂、一切因果皆如夢幻、無三界可出、無菩提可求, hết thảy phiền não nghiệp chướng, xưa nay rỗng lặng, hết thảy nhân quả đều như mộng huyễn, chẳng Ba Cõi phải ra, chẳng Bồ Đề phải tìm).”
- Túc duyên (宿緣): tức nhân duyên đời trước, kiếp trước; tức chỉ cho nhân duyên thiện ác trói buộc bởi đời quá khứ. Tôn Đà Lợi Túc Duyên Kinh (孫陀利宿緣經) thư 1, cũng như Cốt Tiết Đầu Đông Nhân Duyên Kinh (骨節煩疼因緣經) thứ 4 của Phật Thuyết Hưng Khởi Hành Kinh (佛說興起行經, Taishō Vol. 4, No. 197) quyển Thượng cho rằng ác duyên của đời trước là túc duyên. Trong khi đó, phẩm Hiền Thủ (賢首品) của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 15, Cầu Na Bạt Đà La Truyện (求那跋陀羅傳) của Cao Tăng Truyện (高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2059) quyển 3, v.v., cho rằng duyên lành của đời trước là túc duyên. Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (圓覺經大疏釋義鈔, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) quyển 3 có đoạn: “Tích nhật Linh Sơn, đồng thính Pháp Hoa, túc duyên sở truy, kim phục lai hĩ (昔日靈山、同聽法華、宿緣所追、今復來矣, ngày xửa Linh Sơn, cùng nghe Pháp Hoa, túc duyên đeo đuổi, nay lại đến rồi).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh quyển 25, phẩm Thập Hồi Hướng (十迴向品) thứ 25, cũng có đoạn: “Vô số cung điện, vô số âm thanh, tùy thuận túc duyên, chư thiện tri thức, thị hiện nhất thiết, công đức trang nghiêm, vô hữu cùng tận (無數宮殿、無數音聲、隨順宿緣、諸善知識、示現一切、功德莊嚴、無有窮盡, vô số cung điện, vô số âm thanh, tùy thuận túc duyên, các thiện tri thức, thị hiện hết thảy, công đức trang nghiêm, không có cùng tận).” Hoặc trong tác phẩm Minh Phật Luận (明佛論) của Tông Bính (宗炳, 375-443) nhà Tống thời Nam Triều lại có đoạn: “Huống Tu Di chi đại, Phật quốc chi vĩ, tinh thần bất diệt, nhân khả thành Phật, tâm tác vạn hữu, chư pháp giai không, túc duyên miên mạc, ức kiếp nãi báo hồ(況須彌之大、佛國之偉、精神不滅、人可成佛、心作萬有、諸法皆空、宿緣綿邈、億劫乃報乎, huống chi Tu Di to lớn, nước Phật vĩ đại, tinh thần bất diệt, người có thể thành Phật, tâm tạo ra vạn hữu, các pháp đều không, túc duyên xa xôi, ức kiếp còn báo ứng thay!).”
- Thiền hòa (禪和): còn gọi là Thiền hòa tử (禪和子), Thiền hòa giả (禪和者); tức chỉ cho người tham Thiền. Như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 20, phần Tổ Sư Cơ Duyên (祖師機緣), có đoạn: “Tằng đáo khiết trà khứ, vị đáo khiết trà khứ, Triệu Châu lão Thiền hòa, khẩu điềm tâm lí khổ (曾到喫茶去、未到喫茶去、趙州老禪和、口甜心裏苦, từng đến [bảo] uống trà đi, chưa đến [cũng bảo] uống trà đi, Triệu Châu lão Thiền sư, miệng ngọt trong tâm đắng).” Hay trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, bài Kết Hạ (結夏), lại có đoạn: “Nhất bách Thiền hòa tam thập châu, vô thằng tự phược vạn sơn đầu, thùy thị hộ thân thùy thị sát, bạch vân ảnh lí thiết thuyền phù (一百禪和三十州、無繩自縛萬山頭、誰是護身誰是殺、白雲影裏鐵船浮, một trăm Thiền tăng ba mươi châu, không thừng tự buộc vạn non đầu, ai kẻ hộ thân ai là giết, trắng mây trong bóng thuyền sắt trôi).”