LỜI PHI LỘ

 

Nghi lễ Phật Giáo, một kho tàng văn hóa phi vật thể vô cùng quý giá, phong phú, đóng vai trò rất quan trọng và quyết định như là một phương tiện độ sanh vi diệu trong việc hoằng truyền giáo lý Phật Đà vào cuộc đời nầy. Trong đó, các loại văn thư như Sớ (), Điệp (), Trạng (), v.v., là một phần của nghi lễ đó.

Tác phẩm trên tay của quý vị ra đời với hai mục đích chính. Thứ nhất là để nhằm khẳng định vai trò và tầm quan trọng của nghi lễ Phật Giáo nói riêng và văn hóa Phật Giáo Việt Nam nói chung thông qua các bản văn nói trên. Thứ hai là để thực hiện trọn vẹn nguyện ước từ lâu của soạn giả.

Trước đây, chúng tôi có phổ biến với tính cách nội bộ hai văn bản: Sớ Điệp Công Văn (疏牒攻文) và Thiền Môn Chánh Độ Viên Tịch Khoa Nghi (禪門正度圓寂科儀). Cả hai chỉ là những bản thâu lục các lòng văn Sớ, Điệp trong quá trình tiến hành viết luận án Tiến Sĩ; vì vậy trong phần Lời Dẫn của bản Sớ Điệp Công Văn, soạn giả có ghi rõ rằng:

Khi nghiên cứu sâu vào nội dung của các văn bản nầy, tôi thấy rằng người soạn ra chúng quả thật rất uyên thâm giáo lý Phật Giáo qua những lời lẽ, ngôn từ được dùng trong đó. Tôi nghĩ rằng đây cũng là một kho tàng quý giá của văn hóa Phật Giáo chúng ta cần phải lưu giữ. Hơn thế nữa, việc nghiên cứu về nguồn gốc văn bản, phiên dịch và chú thích nội dung của chúng, cũng là việc làm rất cần thiết để có thể lưu hành rộng rãi hơn cho bất cứ ai có quan tâm đến văn hóa Phật Giáo Việt Nam. Trong thời gian có hạn vì bận rộn những nghiên cứu khác, tôi chỉ đánh những văn bản Sớ, Điệp nầy vào máy vi tính và phiên âm nội dung của chúng ra tiếng Việt mà thôi, với chủ tâm muốn để lưu lại những nội dung nầy trong máy vi tính cho khỏi thất lạc về sau. Còn việc nghiên cứu, dịch thuật cũng như chú thích kỹ lưỡng như đã nói ở trên, tôi sẽ làm trong tương lai.

Hai bản trên ra đời vào năm 2001 và mãi cho đến nay, 2009, trãi qua bao tuế nguyệt, vô thường và đổi thay của thời gian cũng như cuộc sống, hôm nay chúng tôi mới có thể hoàn thành được điều ước nguyện “sẽ làm trong tương lai” như đã trình bày ở trên.

Tùy theo từng địa phương, hình thức nghi lễ cũng như nội dung lòng văn Sớ ở ba miền Bắc, Trung, Nam rất phong phú và có phần khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ giới hạn các văn Sớ trong tác phẩm nầy được dùng ở miền Trung và chủ yếu tại Huế. Trong tương lai chúng tôi sẽ giới thiệu về văn Sớ của từng miền khác.

Vì vậy, về nội dung, với tựa đề là Thiền Môn Công Văn: Sớ, tập sách nầy được chia làm 2 tập I & II. Tập I gồm các lòng văn Sớ dùng cho Cầu An và Cầu Siêu, với tổng cọng 58 bản. Tập II thâu lục những lòng văn Sớ khác như Sớ Khai Kinh Thánh Đản Thế Tôn, Sớ Tụng Kinh Thủy Sám, Sớ Quy Y Bào Thai, Sớ Cúng Thánh Đản Ngọc Hoàng, Sớ Cúng Vớt Đất, v.v., với 65 bản.

Bên cạnh phần Nguyên Văn và Phiên Âm như trong bản Sớ Điệp Công Văn hiện đang lưu hành, chúng tôi tiến hành dịch nghĩa và chú thích tất cả các thuật ngữ, từ ngữ, điển cố được đề cập trong các văn Sớ, ngỏ hầu làm sáng tỏ và nêu cao giá trị nội dung cũng như tầm quan trọng của các văn Sớ ấy.

Để tránh nhầm lẫn nội dung của các lòng văn Sớ với nhau, chúng tôi căn cứ vào những chữ đầu tiên của mỗi văn bản, hoặc 2 hay nhiều từ, và đặt tên cho từng bản. Tỷ dụ như trong phần Sớ Cầu An có bản “Phật nãi tam giới y vương, năng trừ chúng sanh bệnh khổ (佛乃三界醫王、能除眾生病苦)”, thì tựa đề của bản nầy sẽ là “Phật Nãi Tam Giới Y Vương”; hay như bản “Nhất niệm tâm thành, bách bảo quang trung vô bất ứng (一念心誠、百寶光中無不應)”, có tựa đề là “Nhất Niệm Tâm Thành”. Hoặc như trong văn Sớ Cầu Siêu có bản “Ta Bà giáo chủ, hoằng khai giải thoát chi môn (娑婆敎主、弘開解脫之門)”, thì tựa đề sẽ là “Ta Bà Giáo Chủ”, v.v.

Càng tiến hành nghiên cứu sâu vào nội dung các văn Sớ, chúng tôi có vài nhận định như sau:

  1. Chư vị cao tăng thạc đức, tác giả của các lòng văn Sớ nầy là những vị có tri thức về Phật học cũng như thế học vô cùng uyên thâm; từ đó, quý ngài đem sở học ấy cũng như đức tu của mình chuyển tải vào các lòng văn Sớ để làm rung động lòng người, chuyển hóa tâm thức, khuyên tu tâm dưỡng tánh và đưa Phật Giáo đến gần với cuộc đời hơn. Như trong văn Phục Nguyện của lòng Sớ Cầu An Từ Tâm Vô Lượng có đoạn: “Hồi quang nhất niệm, công đức vô biên; kỳ lụy sanh nghiệp chướng dĩ băng tiêu, nhất thiết thiện căn nhi thành tựu; niệm niệm Bồ Đề quả kết, sanh sanh Bát Nhã hoa khai; thường cư Tứ Tự chi trung, tất hoạch vạn toàn chi phước; pháp giới oán thân, đồng triêm lợi lạc (回光一念、功徳無邊、祈累生業障以冰消、一切善根而成就、念念菩提果結、生生般若花開、常居四序之中、必獲萬全之福、法界怨親、仝霑利樂, hồi quang một niệm, công đức vô biên; cầu nhiều đời nghiệp chướng tiêu tan, hết thảy thiện căn được thành tựu; từng niệm Bồ Đề trổ quả, đời đời Bát Nhã đơm hoa; bốn mùa vui sống an nhiên, tất đạt vạn toàn phước đức; pháp giới oán thân, thấm nhuần lợi lạc).”
  2. Văn chương quý ngài dùng trong các lòng văn Sớ bao trùm cả một biển Phật học, giáo lý giải thoát vô tận với rất nhiều thuật ngữ, Pháp số, điển cố, v.v. Như đoạn văn “Thắng Hội hoằng khai, Thế Tôn xuất hiện; Hàn Lâm ký thiết, trệ phách lai y; tháo dục thân căn, thừa ân thọ giới; hưởng Tô Đà chi diệu thực, các bảo cơ hư; thính Hoa Tạng chi huyền văn, tảo đăng giác địa (勝會弘開、世尊出現、寒林旣設、滞魄來依、澡浴身根、承恩受戒、享酥酡之妙食、各飽飢虛、聽藏之玄文、早登覺地, Thắng Hội rộng bày, Thế Tôn xuất hiện; Hàn Lâm đã mở, cô hồn đến nương; rửa sạch thân căn, nhờ ơn thọ giới; hưởng món mầu nhiệm Tô Đà, thảy đều no đủ; nghe văn huyền diệu Hoa Tạng, sớm lên cõi giác)”, với các thuật ngữ như “Hàn Lâm (寒林)”, “Tô Đà (酥酡)”, “Hoa Tạng ()”, v.v. Hay câu “Diện Nhiên Đại Sĩ, uy quang khắc đáo ư kim tiêu; Địa Tạng từ tôn, thần lực đại chương ư thử dạ; Diêm Ma Thập Điện, chiếu khai Thập Bát Địa Ngục chi môn; Tả Hữu Phán Quan, thiêu tận ức kiếp luân hồi chi tịch; tỷ Lục Đạo Tứ Sanh chi vi mạng, khô mộc phùng xuân; sử Cửu Huyền Thất Tổ chi sảng linh, đồng đăng giác ngạn (面燃大士、威光刻到於今霄。地藏慈尊、神力大彰於此夜。閻魔十殿、照開十八地獄之門。左右判官、燒盡億刼輪廻之籍。俾六道四生之微命、枯木逢春。使九玄七祖之爽靈、同登覺岸, Diện Nhiên Đại Sĩ, ánh sáng oai lực đến đêm nay; Địa Tạng từ bi, thần lực hiển bày vào tối nầy. Diêm Ma Mười Điện, mở Mười Tám Địa Ngục cửa tung; Phán Quan phải trái, đốt sạch hồ sơ luân hồi muôn kiếp; cho mạng nhỏ của Bốn Loài Sáu Đường, cây khô gặp xuân; khiến hương linh của Cửu Huyền Thất Tổ, cùng lên bờ giác)” với một số thuật ngữ khác như “Diện Nhiên Đại Sĩ (面燃大士)”, “Diêm Ma Thập Điện (閻魔十殿)”, “Lục Đạo Tứ Sanh (六道四生)”, “Cửu Huyền Thất Tổ (九玄七祖)”, v.v. Từ đó, chúng ta có thể thấy được chất giải thoát, tự tại toát ra từ các lòng văn Sớ như vậy.
  3. Về thế học, quý ngài cũng rất tinh tường, quán thông cả cổ kim; cho nên trong các lòng văn Sớ thường xuất hiện khá nhiều thuật ngữ, điển cố, văn từ của các thư tịch xưa của Trung Quốc như Thi Kinh (詩經), Lễ Ký (禮記), Sử Ký (史記), Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓), Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林), v.v. Tỷ dụ trong lòng văn Sớ Cúng Bạt Độ Tổ Tiên Tổ Đức Lưu Phương có một số thuật ngữ như “qua điệt miên miên (瓜瓞綿綿)”, “chung tư chập chập (螽斯蟄蟄)”, “lân chỉ trình tường (麟趾呈祥)”, v.v., phần lớn được tìm thấy trong Thi Kinh và các thư tịch khác. Hay như trong lòng văn Sớ Cúng Cha Lục Nga Phế Độc có điển tích “Lục Nga phế độc (蓼莪廢讀, bỏ đọc chương Lục Nga)”, được tìm thấy trong Bát Đức Cố Sự (八德故事), Hiếu Thiên (孝篇), kể câu chuyện chí hiếu của Vương Bầu (王裒) nhà Ngụy thời Tam Quốc. Sự tích nầy cũng được thâu lục trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝), câu chuyện Văn Lôi Khấp Mộ (聞雷泣墓, nghe sấm khóc mộ). Cũng như trong lòng văn Sớ Cúng Mẹ Tuyết Sầu Bắc Lãnh có điển tích “thái y chi lạc (彩衣之 ).” Thuật ngữ nầy vốn phát xuất từ điển cố Lão Lai Tử (老萊子) nhà Chu, câu chuyện thứ 17 trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝). Ông là người rất chí hiếu, hết mình phụng dưỡng song thân; dầu đến tuổi 70 mà ông vẫn chưa bao giờ cho là già, thường mặc áo 5 sắc màu ngộ nghĩnh, loang lổ, giả làm trẻ nít đùa giỡn trước mặt song thân để làm cho hai người vui; hay lấy nước rưới lên nhà rồi giả sẩy chân té, khóc như đứa con nít, v.v.
  4. Về thể văn, các lòng Sớ, Biểu, v.v., đều tùy cơ duyên mà trước thuật, phải hợp vào cảnh huống lúc khấn nguyện, tức là Khế Cơ và Khế Lý, nên ngày xưa chư liệt Tổ, các vị cổ đức, các bậc thiện tri thức Cư Sĩ, Phật tử uyên bác đã trước thuật nội dung các lá Sớ, Biểu, v.v., để dâng cúng chư Phật, chư Bồ Tát theo quan niệm chư Phật là đấng Thế Tôn; vì vậy, cách hành văn cho đến thể văn đều có qui cách nhất định, thường theo lối Biền Ngẫu đối nhau rất sát và chuẩn (đối câu, đối chữ, đối nghĩa, đối ý, v.v.). Trong Tô Thức Văn Tập (蘇軾文集) quyển 62 của đại thi hào Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) có khá nhiều bài văn Sớ do ông sáng tác, hình thức đối Biền Ngẫu cũng được sử dụng rất tài tình. Như trong bài Trùng Thỉnh Giới Trưởng Lão Trú Thạch Tháp Sớ (重請戒長老住石塔疏) có câu: “Đại Sĩ vị tằng thuyết pháp, thùy tác kim mao chi thanh; chúng sanh các tự khai đường, hà quan Thạch Tháp chi sự (大士未曾說法誰作金毛之聲眾生各自開堂何關石塔之事, Đại Sĩ chưa từng thuyết pháp, ai làm Sư Tử tiếng vang; chúng sanh mỗi tự khai đường, lo gì Thạch Tháp sự việc). Trong tác phẩm nầy, như đoạn Phạm tướng nguy nguy, sa giới ngưỡng vô biên chi thắng phước; trai diên tể tể, pháp môn khai bất dị chi huyền văn; hương chú kim lô, thành thông bảo tòa (梵相巍巍、沙界仰無邊之勝福、齋筳濟濟、法門開不異之玄文、香炷金爐、誠通寶座)” của lòng văn Sớ Vu Lan. “Nguy nguy” đối với “tể tể”; “” đối với “bất”; “kim lô” đối với “bảo tòa”; và nhìn tổng thể thì “Phạm tướng nguy nguy, sa giới ngưỡng vô biên chi thắng phước” đối rất sát với “trai diên tể tể, pháp môn khai bất dị chi huyền văn”. Hay như đoạn “Ta Bà giáo chủ, hoằng khai giải thoát chi môn, Cực Lạc đạo sư, tiếp dẫn vãng sanh chi lộ (娑婆敎主、弘開解脫之門、極樂導師、接引徃生之路)” của Sớ Cầu Siêu Thông Dụng; trong đó, câu “Ta Bà giáo chủ, hoằng khai giải thoát chi môn” đối với “Cực Lạc đạo sư, tiếp dẫn vãng sanh chi lộ”, v.v. Hoặc như đoạn văn Phục Nguyện “Hoàng Thiên giáng phước, phước lưu vĩnh vĩnh vô cùng; Hậu Thổ thi ân, ân giáng miên miên bất tận; gia môn thanh cát, trưởng ấu hàm an; tụ Đông Tây Nam Bắc chi tài, nạp Xuân Hạ Thu Đông chi lợi (皇天降福、福留永永無窮、后土施恩、恩隆綿綿不盡、家門清吉、長幼咸安、聚東西南北之財、納春夏秋冬之利)” trong Sớ Cúng Vớt Đất. Câu “Hoàng Thiên giáng phước, phước lưu vĩnh vĩnh vô cùng” đối rất chuẩn với “Hậu Thổ thi ân, ân giáng miên miên bất tận”; cũng như “tụ Đông Tây Nam Bắc chi tài” đối rất khớp với “nạp Xuân Hạ Thu Đông chi lợi”, v.v.

Những lòng văn Sớ được thâu lục trong tác phẩm nầy vốn dựa chủ yếu trên mấy nguồn tư liệu chính:

  1. Một số văn Sớ thỉnh được tại Chùa Tường Quang (祥光寺), Đường Chi Lăng, Thành Phố Huế.
  2. Bản chép tay bằng Hán ngữ Phật Môn Giản Lược Công Văn Thiện Bản (佛門簡略攻文善本, ghi Phật Lịch 2510, ngày mồng 8 tháng 2 năm Bính Ngọ [1966]) của cố Hòa Thượng Thích Tâm Giải (釋心解), nguyên trú trì Chùa Từ Quang (慈光寺), Thành Phố Huế, với dòng chữ “Bình An Sơn Từ Quang Tự Tỷ Kheo Tâm Giải phụng sao (平安山慈光寺比丘心解奉抄, Tỷ Kheo Tâm Giải ở Từ Quang Tự thuộc Bình An Sơn vâng chép)”.
  3. Bản chép tay bằng Hán ngữ Công Văn (攻文) rất công phu, không rõ năm, không rõ tác giả và năm sao chép; nhưng rất súc tích với khá đầy đủ các lòng văn Sớ dùng cho mọi trường hợp. Bản nầy do Hòa Thượng Thích Minh Tuấn, Trú Trì Thiền Viện Bồ Đề, Thành Phố Đà Nẵng cung cấp.

Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm nhiều tài liệu khác như Bạt Độ Trùng Tang Nam Thương Huyết Hồ Chẩn Tế Khánh Sanh Trai Đàn Công Văn (拔度重喪南殤血湖賑濟慶生齊壇攻文, bản chép tay, Nhâm Thân [1932]) cũng như Thường Hành Tiện Lãm (常行便覧, bản chép tay, Ất Hợi [1935]) của cố Hòa Thượng Thích Giác Thể (釋覺體), nguyên Trú Trì Sắc Tứ Tịnh Quang Tự (淨光寺), Quảng Trị, v.v. Những tư liệu nầy có dẫn rõ trong phần Thư Mục Tham Khảo ở cuối sách.

Hiện tại chúng tôi vẫn chưa xác định rõ ai là tác giả của những áng văn Sớ tuyệt tác, bất hủ như thế nầy; nhưng qua bộ Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252), gồm 4 quyển, do Thạch Cổ Chủ Nhân Thích Nguyên Hiền (石鼓主人釋元賢) nhà Minh (1368-1662) soạn, chúng tôi nhận thấy rằng tác giả của các lòng văn Sớ nầy có tham khảo tác phẩm Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng.

Tỷ dụ như trong Sớ Quy Y Bào Thai có câu “tần phiền dung chất, bồ liễu vi khu, tương lâm ngọa nhục chi thần, thâm chẩn triệt tang chi niệm; hùng bi ứng mộng, thượng cư do dự chi trung; chương ngõa trình tường, thả tại hồ nghi chi vức; duy kí bảo an nhị tự, cảm vong trí kính Tam Tôn (蘋蘻庸質、蒲柳微軀、將臨臥蓐之辰、深軫徹桑之念、熊羆應夢、尚居猶豫之中、璋瓦呈祥、且在狐疑之域、惟冀保安二字、敢忘致敬三尊, yếu mềm tư chất, bồ liễu tấm thân; sắp kỳ chuyển bụng sinh con, nỗi lo sửa sang tổ ấm; gấu beo báo mộng, sao còn do dự làm chi; gái trai điềm lành, vẫn còn hồ nghi lưỡng lự; chỉ mong bình an hai chữ, dám quên thành kính Tam Tôn)”; câu nầy được tìm thấy trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng quyển 2, phần Bảo Thai (保胎): “Thiết niệm: Mỗ dựng thê tần phiền tiện chất, bồ liễu vi xu, tương lâm ngọa nhục chi kỳ, thâm chẩn triệt tang chi niệm; hùng bi ứng mộng, thả cư do dự chi trung; xà hủy trình tường, diệc tại hồ nghi chi vức; duy kí bảo an nhị tự, cảm vong trí kính vu Tam Tôn (切念、某孕妻蘩蘋賤質、蒲柳微軀、將臨臥蓐之期、深軫徹桑之念、熊羆應夢、且居猶豫之中、蛇虺呈祥、亦在狐疑之域、惟冀保安之二字、敢忘致敬于三尊, Nép nghĩ: vợ mang thai … yếu mềm hèn mọn, thân mảnh bồ liễu, sắp đến kỳ chuyển bụng sinh con, xót thương niềm lo lót ổ; gấu cọp ứng mộng, sao mãi do dự làm chi; rắn mang điềm tốt, liệu còn nghi ngờ lưỡng lự; chỉ mong bình an trong hai chữ, dám quên kính ngưỡng đấng Tam Tôn)”, v.v.

Tác phẩm nầy hoàn thành không phải do một mình soạn giả thực hiện, mà được sự hỗ trợ cũng như góp công của rất nhiều người. Trước hết, tác giả xin chân thành tri ân sự chiếu cố vô cùng to lớn của cô Phật Điển Hành Tư, người đã để dành hầu hết thời gian đọc, hiệu đính bản thảo và viết lời giới thiệu cho tác phẩm. Xin thành kính cám ơn Hòa Thượng Thích Minh Tuấn, Trú Trì Thiền Viện Bồ Đề, thành phố Đà Nẵng, bác Nguyễn Chương, pháp danh Nguyên Hòa ở thành phố Salt Lake, tiểu bang Utah, Mỹ Quốc; bác Phan Văn Đặng, pháp danh Quảng Kiệt ở thành phố Đà Nẵng, đã hoan hỷ cung cấp nhiều tài liệu quý giá để tác giả dùng làm tham khảo cho tập sách nầy.

Cảo bản đánh bằng máy vi tính ra đời vào năm 2001, thời gian soạn giả còn đang du học tại Nhật Bản; vì vậy nhân khi tác phẩm nầy hoàn thành mỹ mãn, chúng tôi cũng xin ngỏ lời tri ân đến Tiến sĩ Tiền Điền Huệ Học (前田惠學, Egaku Mayeda), Giáo Sư Danh Dự Trường Đại Học Aichi Gakuin, Tiến sĩ Đại Dã Vinh Nhân (大野榮人, Ōno Hideto), Giáo Sư Trường Đại Học Aichi Gakuin, Giáo Sư Lăng Điền Bang Phu (菱田邦夫, Hishida Kunio); Đại sư Cao Cương Tú Sướng (高岡秀暢, Takaoka Shūchō), Trú Trì Đức Lâm Tự (德林寺, Tokurin-ji), thành phố Nagoya (名古屋), và liệt quý vị ân nhân của Nhật Bản, đã giúp đỡ nhiều mặt về tinh thần cũng như vật chất trong quá trình soạn giả lưu học.

Cuối cùng soạn giả xin chân thành cảm tạ tất cả chư vị ân nhân, Phật tử xa gần đã động viên, ủng hộ trong quá trình viết tác phẩm. Xin trân trọng giới thiệu đến quý liệt vị độc giả kho tàng văn hóa tâm linh nầy.

 

Chùa Việt Nam, thành phố Los Angeles, Mỹ Quốc

Mùa An Cư 2009

Thích Nguyên Tâm