25. Ngoại Từ Bạt Độ Vong Linh Hịch
Nguyên văn:
外祠拔度亡靈檄
啟建普度道場大齋壇 本壇欽奉
佛旨眞符告下
南無大方廣佛花嚴經。唵伽囉帝耶娑婆訶。右符告下。謹請
東方阿閦如來。南方寶相如來。西方彌陀如來。北方成就如來。中方毘盧如來。坐上蓮臺、放光炤獄、蓮花接足、爍破東方鐵綱鐵繩、南方鐵壁鐵床、西方鐵驢鐵馬、北方鐵蛇鐵狗、中央鐵槌鐵樹、行無間斷、公曹旨判、獄卒冥司、迎引
伏爲某家先祖列位先靈、一切男女等諸香魂、同仗齋筵、均超淨境。
竊慮、或生前曩刼、以至今生、負命欠財、爭人爭我、等諸罪咎、一切愆尤、今對
三寶像前、披陳懺悔、憑兹法會、共享珍饈、同承佛力、各遂逍遙、聽金經而解脫、聞玉偈以優游。須至檄者。
右檄仰
南無東方阿閦如來證明接度。
Phiên âm:
NGOẠI TỪ BẠT ĐỘ1 VONG LINH HỊCH2
Khải Kiến Phổ Độ Đạo Tràng Đại Trai Đàn
Bổn đàn khâm phụng Phật chỉ chơn phù cáo hạ.
Nam Mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Án già ra đế da ta bà ha.3
Hữu phù4 cáo hạ. Khẩn thỉnh: Đông Phương A Súc Như Lai, Nam Phương Bảo Tướng5 Như Lai, Tây Phương Di Đà Như Lai, Bắc Phương Thành Tựu Như Lai, Trung Phương Tỳ Lô Như Lai, tọa thượng liên đài, phóng quang chiếu ngục, liên hoa tiếp túc, thước phá Đông phương thiết cương thiết thằng, Nam phương thiết bích thiết sàng, Tây phương thiết lư thiết mã, Bắc phương thiết xà thiết cẩu, Trung phương thiết chùy thiết thọ, hành vô gián đoạn, Công Tào6 chỉ phán, ngục tốt7 Minh Ty;8nghênh dẫn:
Phục vị mỗ gia tiên tổ liệt vị tiên linh, nhất thiết nam nữ đẳng chư hương hồn, đồng trượng trai diên, quân siêu Tịnh Cảnh.9
Thiết lự: Hoặc sanh tiền nẵng kiếp, dĩ chí kim sanh; phụ mạng khiếm tài, tranh nhân tranh ngã; đẳng chư tội cữu, nhất thiết khiên vưu; kim đối Tam Bảo tượng tiền, phi trần sám hối;10 bằng tư pháp hội, cọng hưởng trân tu; đồng thừa Phật lực, các toại tiêu dao; thính kim kinh nhi giải thoát, văn ngọc kệ dĩ ưu du. Tu chí Hịch giả.
Hữu Hịch Ngưỡng
Nam Mô Đông Phương A Súc Như Lai chứng minh tiếp độ.
Dịch nghĩa:
VĂN HỊCH BẠT ĐỘ VONG LINH NGOẠI TỪ
Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Độ Khắp
Bổn đàn vâng phụng Phật chỉ chơn phù cáo xuống.
Kính lễ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Án già ra đế da ta bà ha. Hữu phù cáo xuống.
Khẩn thỉnh: A Súc Như Lai phương Đông, Bảo Tướng Như Lai phương Nam, Di Đà Như Lai phương Tây, Thành Tựu Như Lai phương Bắc, Tỳ Lô Như Lai phương giữa, ngồi trên sen đài, phóng quang chiếu ngục, hoa sen đỡ chân, phá tan lưới sắt dây sắt phương Đông, vách sắt giường sắt phương Nam, lừa sắt ngựa sắt phương Tây, rắn sắt chó sắt phương Bắc, chùy sắt cây sắt trung ương, hành không gián đoạn, Công Tào truyền chỉ, lính ngục Minh Ty; đón dẫn:
Cúi vì: Các hương hồn tiên tổ dòng họ …, quý vị vong linh đã quá vãng, hết thảy nam nữ, v.v., cùng nhờ cỗ chay, đều siêu Tịnh Cảnh.
Nép nghĩ: Hoặc sanh tiền bao kiếp, cho đến đời nay; bỏ mạng thiếu tài, tranh người tranh ta; khắp các tội lỗi, hết thảy sai lầm; nay đối trước tượng Tam Bảo, tỏ bày sám hối; nhờ vào pháp hội, được hưởng món ngon; cùng nương lực Phật, đều được tiêu diêu; nghe lời vàng mà giải thoát, văn kệ ngọc được thong dong. Kính dâng Hịch nầy.
Kính Dâng Hịch
Kính lạy Đông Phương A Súc Như Lai chứng minh tiếp độ.
Chú thích:
- Bạt độ (拔度、拔渡): siêu độ, cứu vớt. Bạt (拔) nghĩa là nhổ, rút; độ (渡) là sang, qua, vượt qua; bạt độ nghĩa là nhổ sạch, hóa giải những nghiệp lực, oan khiên để giúp vượt qua bờ bên kia giải thoát. Như trong tập tiểu thuyết Di Kiên Đinh Chí (夷堅丁志), phần Chiêm Tiểu Ca (詹小哥), của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống, có đoạn: “Mẫu huynh thất thanh khốc, cức hô tăng tụng kinh bạt độ, vô phục vọng kỳ quy (母兄失聲哭、亟呼僧誦經拔度、無復望其歸, anh của mẹ thất thanh khóc, gấp rút gọi chư tăng tụng kinh cầu siêu độ, không trông mong người ấy sống lại).” Hay trong Biện Chánh Luận (辯正論, Taishō Vol. 52, No. 2110) quyển 2, thiên Tam Giáo Trị Đạo (三敎治道篇) thứ 2, cũng có đoạn: “Tam viết Hoàng Lục, bạt độ Cửu Huyền Thất Tổ, siêu xuất Ngũ Khổ Bát Nạn, cứu u dạ cầu thán chi hồn, tế Địa Ngục trường bi chi tội (三曰黃籙、拔度九玄七祖、超出五苦八難、救幽夜求歎之魂、濟地獄長悲之罪, thứ ba là đàn Hoàng Lục, chuyên cứu vớt Cửu Huyền Thất Tổ, thoát ra khỏi Năm Khổ Tám Nạn, cứu đêm tối than khóc vong hồn, thoát Địa Ngục đau buồn bao tội).”
- Hịch (檄): là văn thư xưa kia cấp trên dùng để kêu gọi, triệu tập, hiểu dụ cấp dưới. Như trong Văn Tuyển (文選), thiên Bạch Mã (白馬篇) có câu: “Vũ hịch tùng Bắc lai, lệ mã đăng cao đê (羽檄從北來、厲馬登高堤, Hịch truyền từ Bắc đến, ngựa gắng lên đê cao).” Hay trong bản dịch của Chinh Phụ Ngâm Khúc (征婦吟曲) cũng có câu: “Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.” Tại Việt Nam có bài Dụ Chư Tỳ Tướng Hịch Văn (諭諸裨將檄文, tức Hịch Tướng Sĩ) của Hưng Đạo Đại Vương (興道大王, 1232?-1300) là nổi tiếng nhất. Trong Công Văn Đàn Tràng của Phật Giáo Việt Nam có một số loại Hịch như: Hịch Thủy Văn (檄水文, văn Hịch cúng dưới nước khai mở bạt độ trầm luân), Phát Thành Hoàng Thổ Địa Hịch (發城隍土地檄, văn Hịch cáo Thành Hoàng Thổ Địa), Khai Tịch Hịch (開闢檄, văn Hịch cáo khai khẩn đất đai), Chiêu Sơn Thủy Hịch (召山水檄, văn Hịch cáo thần sông nước), v.v.
- Đây là Phá Địa Ngục Chơn Ngôn (破地獄眞言), được tìm thấy trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) do Độc Thể (讀體, 1601-1679), cao tăng của phái Thiên Hoa (千華派) thuộc Luật Tông ở Bảo Hoa Sơn (寶華山) soạn. Câu thần chú nầy nằm trong bài kệ Văn Chung (聞鐘, Nghe Chuông), có âm dịch hơi khác: “Án, già ra đế da sa ha (唵、伽囉帝耶莎訶).” Ngoài ra, chơn ngôn nầy còn được tụng trong thời khóa Công Phu Chiều hằng ngày.
- Hữu Phù (右符): phần nửa bên phải của thẻ ấn phù, thường được dùng để điều động quân đội hay bổ nhiệm hoặc bãi miễn chức vụ Trưởng Quan của châu quận thời xưa. Tả Phù (左符) và Hữu Phù hợp lại được gọi là bằng tín (憑信). Loại nầy thường được làm bằng tre, gỗ, đồng, v.v. Loại Hữu Phù có hình con cá có tên là Hữu Ngư (右魚). Như trong Đại Tông Triều Tặng Tư Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Tam Tạng Hòa Thượng Biểu Chế Tập (代宗朝贈司空大辨正廣智三藏和上表制集, Taishō Vol. 52, No. 2120) quyển 4 có câu: “Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng sắc như Hữu Phù đáo phụng hành (沙門大廣智不空奉敕如右符到奉行, Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không [705-774] vâng sắc chỉ như Hữu Phù đến vâng làm).”
- Tức Bảo Sanh Phật (s: Ratna-saṃbhava, 寶生佛).
- Công Tào (公曹): chức quan sai nhỏ trong nha môn dưới thời phong kiến. Như trong bản tạp kịch Đông Đường Lão (東堂老) của Tần Giản Phu (秦簡夫, ?-?) nhà Nguyên có đoạn: “Na lí diện hựu một quan liêu, hựu một vương điều, hựu một Công Tào, hựu một tù lao (那裏面又沒官僚、又沒王條、又沒公曹、又沒囚牢, sao mặt bên trong lại chẳng có quan liêu nào, lại chẳng có hình pháp nào, lại chẳng có Công Tào nào, lại chẳng có tù lao nào ?).”
- Ngục tốt (s: naraka-pāla, 獄卒): chỉ cho hạng lính quỷ trong Địa Ngục; còn gọi là Địa Ngục Tốt (地獄卒), Na Lạc Già Tốt (那洛迦卒). Trong cõi Địa Ngục, họ thường hiện thân hình quái dị, đáng sợ như đầu trâu, mặt ngựa, v.v., thường bức bách, la mắng tội nhân. Trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 16 có đoạn: “Ác La Sát, ngục tốt, tác chủng chủng hình, ngưu, mã, trư, dương, chương, lộc, hồ, cẩu, hổ, lang, sư tử, lục bác, đại điểu, điêu thứu, thuần điểu, tác thử chủng chủng chư điểu thú đầu, nhi lai thôn đạm, giảo khiết, niết xế tội nhân (惡羅剎、獄卒、作種種形、牛、馬、豬、羊、獐、鹿、狐、狗、虎、狼、師子、六駮、大鳥、鵰鷲、鶉鳥、作此種種諸鳥獸頭、而來吞噉、齩嚙、䶩掣罪人, ác La Sát, lính ngục, hiện các loại hình, trâu, ngựa, heo, dê, hươu, nai, chồn, chó, hổ, sói, sư tử, lục bác [loại như ngựa], chim lớn, kên kên, chim cút, hiện các loại đầu chim thú, mà đến nhai nuốt, cắn xé, kéo giựt tội nhân).” Về vấn đề ngục tốt có phải là hữu tình hay không, có nhiều thuyết khác nhau. Duy Thức Nhị Thập Luận Thuật Ký (唯識二十論述記, Taishō Vol. 43, No. 1834) quyển Thượng cho biết rằng trong các bộ phái, Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部), Chánh Lượng Bộ (s: Sammatīya, p: Sammitiya, 正量部) chủ trương ngục tốt thật sự là hữu tình; trong khi đó, Tát Bà Đa Bộ (s: Sarvāstivāda, 薩婆多部), Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika, 經量部), v.v., lại cho là không phải. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 7, thiên Lục Đạo (六道篇), Địa Ngục Bộ (地獄部), có đoạn: “Đồng trụ biến sắc vĩnh thụ pháp tràng, thiết võng cải hình phương khai Tịnh Độ, ngưu đầu trịch đao cánh thọ Tam Quy, ngục tốt khí tiên hoàn trì Ngũ Giới (銅柱變色永豎法幢、鐵網改形方開淨土、牛頭擲刃更受三歸、獄卒棄鞭還持五戒, trụ đồng đổi màu mãi dựng cờ pháp, lưới sắt thay hình mở ra Tịnh Độ, đầu trâu ném đao lại thọ Tam Quy, lính ngục bỏ roi hành trì Năm Giới).”
- Minh Ty (冥司): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cõi âm. Như trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (敦煌變文集), phần Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Biến Văn (妙法蓮花經變文), có đoạn: “Sanh tiền bất tằng tu di, tử đọa A Tỳ Địa Ngục, vĩnh thuộc minh ty, trường thọ khổ độc (生前不曾修移、死墮阿毗地獄、永屬冥司、長受苦毒, khi sống chưa từng tu sửa, chết đọa A Tỳ Địa Ngục, mãi thuộc cõi âm, chịu hoài khổ sở).” (2) Chỉ vị Trưởng Quan của cõi âm. Như trong tác phẩm Tân Tề Hài (新齊諧), phần Đường Phối Thương (唐配滄), của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh, có đoạn: “Trưởng tức Quách thị tại hàng bệnh kịch, hốt tác Tư Mã Công ngữ vân: ‘Minh Ty niệm ngã cư quan thanh chánh, sắc vi Võ Xương phủ Thành Hoàng’ (長媳郭氏在杭 病劇、忽作司馬公語云、冥司念我居官清正、敕爲武昌府城隍, người dâu trưởng Quách thị khi đi trên thuyền bị bệnh nguy kịch, chợt nói tiếng của Tư Mã Công, bảo rằng: ‘Quan Minh Ty niệm tình ta làm quan liêm chính, nên sắc ta làm Thành Hoàng của phủ Võ Xương’).”
- Tịnh Cảnh (淨境): cảnh giới thanh tịnh, tên gọi khác của Tịnh Độ. Như trong bài thơ Phụng Hòa Cửu Nguyệt Cửu Nhật Đăng Từ Ân Tự Phù Đồ Ứng Chế (奉和九月九日登慈恩寺浮圖應制) của Phàn Thầm (樊忱, ?-?) nhà Đường có câu: “Tịnh cảnh Trùng Dương Tiết, tiên du vạn thừa lai, sáp du đăng Thứu Lãnh, bả cúc tọa Phùng Đài, Thập Địa tường vân hợp, tam thiên thụy cảnh khai, thu phong từ cánh viễn, thiết biện lạc khang tai (淨境重陽節、仙遊萬乘來、插萸登鷲嶺、把菊坐蜂臺、十地祥雲合、三天瑞景開、秋風詞更遠、竊抃樂康哉, cảnh tịnh Trùng Dương Tiết, tiên về vạn xe bay, thù du lên Đỉnh Thứu, mang cúc ngắm Phùng Đài, Mười Địa mây lành gặp, ba ngàn cảnh lạ bày, gió thu về xa tít, vui mừng khôn xiết thay).” Hay như trong Mộng Du Tập (夢遊集) quyển 33 của Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清, 1546-1623) nhà Thanh có câu: “Thổ bổn vô tịnh uế, tịnh uế tùng tâm biến, tâm cấu nhược tiêu trừ, tịnh cảnh ứng tâm hiện (土本無淨穢、淨穢從心變、心垢若消除、淨境應念現, đất vốn không sạch bẩn, sạch bẩn từ tâm biến, tâm bẩn nếu tiêu trừ, cảnh tịnh theo tâm hiện).” Trong Kim Cang Bát Nhã Kinh Tập Nghiệm Ký (金剛般若經集驗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1629) cũng có đoạn: “Công tự ngôn hữu hóa nhân lai nghênh, đương trú Tây Phương Tịnh Cảnh, nhân dữ thân thích quyết biệt, ngôn ngật nhi chung (公自言有化人來迎、當徃西方淨境、因與親戚訣別、言訖而終, ông tự bảo rằng có người hiện đến rước đi, sẽ về cõi Tịnh Cảnh ở phương Tây, nhân đó chia tay bà con thân thích, nói xong rồi đi).”
- Sám hối (s: deśanā, kṣama, paṭi karoti, āpatti-pratideśanā, 懺悔): còn gọi là hối quá (悔過, ăn năn những điều sai lầm), là hành vi bộc bạch trước chư Phật và các vị Tỳ Kheo về những tội lỗi, sai lầm tự mình phạm phải và cầu xin được công nhận. Nguyên ngữ tiếng Sanskrit của từ nầy có mấy loại khác nhau. Kṣama (悔摩, hối ma) nghĩa là cầu xin tha tội và ăn năn, hối lỗi với những tội lỗi của quá khứ. Trong Luật, khi thuyết giới vào mỗi nửa tháng hay vào ngày chấm dứt kỳ An Cư (安居), có nghi thức tụng giới bổn và phát lộ những tội lỗi đã vi phạm trước đại tăng từ 1 người (Đối Thủ Sám [對首懺]) cho đến 4 người (Chúng Pháp Sám [眾法懺]); hình thức nầy được gọi là āpatti-pratideśanā (đối trước người khác bộc bạch). Trong A Hàm Kinh (阿含經), có nhiều trường hợp bộc bạch tội lỗi lên đức Thế Tôn và cầu xin tha tội. Trong Phật Giáo Đại Thừa, có nghi thức lễ bái mười phương chư Phật, phát lộ những tội lỗi của Ba Nghiệp thân, miệng, ý cũng như các tội lỗi khác và cầu xin sám hối. Tại Trung Quốc, sám hối đã trở thành một nghi lễ đặc biệt, cho nên nghi thức Sám Pháp (懺法) được hình thành và rất phổ cập, tỷ dụ như Lương Hoàng Sám (梁皇懺), Thủy Sám (水懺), Đại Bi Sám (大悲懺), Dược Sư Sám (藥師懺), Tịnh Độ Sám (淨土懺), Địa Tạng Sám (地藏懺), v.v. Thiên Thai Trí Khải Đại Sư (天台智顗大師, 538-397) chia sám hối thành Sự Sám (事懺, thể hiện sám hối bằng hành động), Lý Sám (理懺, nhờ quán pháp về lý của thật tướng mà diệt được tội lỗi) và phân ra 3 loại: Tác Pháp (作法, sám hối theo Luật), Thủ Tướng (取相, quán pháp), Vô Sanh (無生, lý sám hối). Đạo Tuyên (道宣, 596-667) của Nam Sơn Luật Tông (南山律宗) cho rằng Chế Giáo Sám (制敎懺) của giới luật là thuộc về Tiểu Thừa, còn Hóa Giáo Sám (化敎懺) với hình thức sám hối các tội của nghiệp đạo là cọng thông tất cả Phật Giáo, không giới hạn ở thừa nào cả. Y cứ vào Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論, Taishō Vol. 26, No. 1521), trong giáo học của Thiên Thai Tông có nội dung của sám hối với 5 giai đoạn là Sám Hối (懺悔), Khuyến Thỉnh (勸請), Tùy Hỷ (隨喜), Hồi Hướng (廻向), Phát Nguyện (發願). Bài kệ văn sám hối rất phổ biến được lấy từ quyển 4, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (普賢行願品) của Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) là: “Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thỉ tham sân si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh, nhất thiết ngã kim giai sám hối (我昔所造諸惡業、皆猶無始貪瞋癡、從身語意之所生、一切我今皆懺悔, con xưa vốn tạo các nghiệp ác, đều do từ trước tham sân si, từ thân miệng ý mà sanh ra, hết thảy con nay xin sám hối).” Trong Pháp Hoa Tam Muội Hành Sự Vận Tưởng Bổ Trợ Nghi (法華三昧行事運想補助儀, Taishō Vol. 46, No. 1942) có đoạn: “Kim đối Phổ Hiền thập phương chư Phật tiền, phổ vị chúng sanh quy mạng sám hối, duy nguyện gia hộ linh chướng tiêu diệt (今對普賢十方諸佛前、普爲眾生歸命懺悔、惟願加護令障消滅, nay đối trước Phổ Hiền và mười phương chư Phật, rộng vì chúng sanh quy mạng sám hối, xin nguyện gia hộ khiến cho tội chướng tiêu diệt).” Hay trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 22 có định nghĩa về ý nghĩa sám hối chân thật: “Tội tùng tâm khởi tương tâm sám, tâm nhược diệt thời tội diệc vong, tội vong tâm diệt lưỡng câu không, thị tắc danh vi chơn sám hối (罪從心起將心懺、心若滅時罪亦亡、罪亡心滅兩俱空、是則名爲眞懺悔, tội từ tâm khởi đem tâm sám, tâm được tịnh rồi tội liền tiêu, tội tiêu tâm diệt cả hai không, đó mới gọi là chơn sám hối).”