47. Nhập Tháp Cúng Tôn Sư Sớ
Nguyên văn:
入塔供尊師疏
伏以
法身常住、本無出入之殊、性體圓明、豈有昇還之異、建興寶塔、請禮明珠。拜疏爲
大南國... 某寺奉于案前、設供禮請尊師入塔事。今法子等、惟日仰干尊德、俯鑒微忱
伏爲恭薦尊師徽號和尚之覺靈。
恭惟、尊師性生慈善、相絕我人、繼規範於叢林、行參百丈、著謀猷於禪席、德比萬峯、慧命閱...十年之戒珠、標直指而披雲覩月、降跡閱...十餘之壽歲、謝塵勞而返撲歸眞、曩日建興寶塔以酬恩、今辰密定明珠而報德。
伏願、堂堂妙體、赫赫神明、對日月以增光、洋洋在上、應乾坤而有顯、濯濯厥靈、加垂福慧之恩波、永賜康寧之壽域、世世重光祖印、興顯禪宗、辰辰續焰蓮芳、綿長法派、但下...
Phiên âm:
NHẬP THÁP CÚNG TÔN SƯ SỚ
Phục dĩ
Pháp Thân thường trụ, bổn vô xuất nhập chi thù; tánh thể viên minh, khởi hữu thăng hoàn chi dị; kiến hưng bảo tháp,1 thỉnh lễ minh châu.2
Sớ vị: Đại Nam Quốc … mỗ tự phụng vu án tiền, thiết cúng thỉnh Tôn sư nhập tháp sự. Kim Pháp tử … đẳng, duy nhật ngưỡng can tôn đức, phủ giám vi thầm.
Phục vị: Cung tiến Tôn sư huy hiệu Hòa Thượng chi giác linh.
Cung duy: Tôn sư tánh sanh từ thiện, tướng tuyệt ngã nhân; kế quy phạm ư tùng lâm, hạnh tham Bách Trượng; trước mưu du ư Thiền tịch, đức tỷ vạn phong; huệ mạng duyệt … thập niên chi giới châu, tiêu trực chỉ nhi phi vân đỗ nguyệt; giáng tích duyệt … thập dư chi thọ tuế, tạ trần lao nhi phản phác quy chơn; nẵng nhật kiến hưng bảo tháp dĩ thù ân, kim thần mật định minh châu nhi báo đức.
Phục nguyện: Đường đường diệu thể, hách hách thần minh; đối nhật nguyệt dĩ tăng quang, dương dương tại thượng; ứng càn khôn nhi hữu hiển, trạc trạc quyết linh; gia thùy phước huệ chi ân ba, vĩnh tứ khang ninh chi thọ vức; thế thế trùng quang tổ ấn, hưng hiển Thiền Tông; thần thần tục diễm liên phương, miên trường pháp phái; đản hạ …
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG TÔN SƯ DỊP NHẬP THÁP
Cúi nghĩ:
Pháp Thân thường trú, vốn không gì khác vào ra; tánh thể sáng trong, sao có đi về nẻo khác; kiến lập bảo tháp, thỉnh lễ minh châu.
Lạy Sớ tâu: Việc Chùa …, nước Đại Nam, vâng đến trước án, thiết cúng Tôn sư nhập tháp. Nay Pháp tử … hiếu đồ … hôm nay ngưỡng trông tôn đức, chứng giám lòng thành.
Cúi vì: Dâng cúng giác linh Tôn sư Hòa Thượng (huy hiệu) …
Nép nghĩ: Tôn sư tánh sinh từ thiện, tướng dứt ta người; kế thừa quy cũ tùng lâm, hạnh tham Bách Trượng; rõ mưu kế nơi Thiền tịch, đức sánh vạn phong; huệ mạng được … mươi năm ấy giới châu, nêu trực chỉ mà vạch mây thấy nguyệt; lưu dấu đã hơn … mươi ấy tuổi thọ, tạ trần lao mà trở về nguồn chơn; ngày trước dựng lên bảo tháp để đáp ơn, hôm này thầm định minh châu mà báo đức.
Cúi mong: Đường đường pháp thể, hiển hách thần minh; đối nhật nguyệt thêm sáng tươi, mênh mông trên ấy; ứng càn khôn mà hiển hiện, rạng rỡ giác linh; ban cho phước huệ ấy sóng ơn, mãi gieo khang ninh ấy tuổi thọ; đời đời sáng ngời Tổ ấn, hưng hiển Thiền Tông; thời thời kế tục sen thơm, miên trường pháp phái; kẻ hạ tình …
Chú thích:
- Bảo tháp, bửu tháp (寶塔): tháp báu, từ mỹ xưng của tháp Phật, cũng chỉ cho ngôi tháp được trang sức bằng các thứ trân bảo; sau nầy chỉ chung cho các ngôi tháp. Như trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4, phẩm Kiến Bảo Tháp (見寶塔品) thứ 11, có câu: “Nhĩ thời Đa Bảo Phật, ư bảo tháp trung phân bán tòa dữ Thích Ca Mâu Ni Phật (爾時多寶佛、於寶塔中分半座與釋迦牟尼佛, lúc bấy giờ đức Phật Đa Bảo, ở trong tháp báu chia nửa tòa ngồi cho đức Phật Thích Ca Mâu Ni).” Hay trong bài Vi Thuấn Xà Lê Tạ Ngự Đề Đại Thông Đại Chiếu Hòa Thượng Tháp Ngạch Biểu (爲舜闍黎謝御題大通大照和尚塔額表) của Vương Duy (王維, 692-761) nhà Đường có câu: “Giáng xuất thiên môn, thăng ư bảo tháp (降出天門、升於寶塔, giáng xuống cổng trời, bay lên bảo tháp).” Hoặc trong Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳, TaishōVol. 51, No. 2099) quyển 2, phần Vô Trước Hòa Thượng Nhập Hóa Bát Nhã Tự (無著和尚入化般若寺) 13, có bài kệ rằng: “Nhược nhân tĩnh tọa nhất tu du, thắng tạo Hằng sa thất bảo tháp, bảo tháp tất cánh hoại vi trần, nhất niệm tịnh tâm thành chánh giác (若人靜坐一須臾、勝造恆沙七寶塔、寶塔畢竟壞微塵、一念淨心成正覺, nếu người tĩnh tọa trong khoảnh khắc, hơn tạo Hằng sa tháp bảy báu, tháp báu cuối cùng thành cát bụi, một niệm lắng tâm thành chánh giác).”
- Minh châu (明珠): viên ngọc sáng, còn gọi là Minh Nguyệt Châu (明月珠), Minh Nguyệt Ma Ni (明月摩尼); là viên ngọc báu sáng như mặt trăng, nên có tên gọi như vậy. Viên ngọc nầy có đức tánh của nước đục lắng trong. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 9, phẩm Như Lai Tánh (如來性品) thứ 4, có đoạn: “Thí như minh châu trí trọc thủy trung, dĩ châu uy đức, thủy tức vi thanh (譬如明珠置濁水中、以珠威德、水卽爲清, ví như viên ngọc sáng đặt trong nước đục, nhờ oai đức của viên ngọc, nước liền trở thành trong).” Hay trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 16, bài Thị Hồ Băng Lăng Huyện Duẫn (示胡冰稜縣尹), lại có câu: “Ngạch thượng minh châu quang xán lạn, dạ vô ác mộng nhật vô kinh (額上明珠光燦爛、夜無惡夢日無驚, trên trán minh châu chiếu sáng rực, đêm không ác mộng ngày an tâm).” Hoặc trong Quốc Thanh Bách Lục (國清百錄, Taishō Vol. 46, No. 1934) quyển 4, phần Sắc Tạo Quốc Thanh Tự Bi Văn (敕造國清寺碑文) thứ 93, Thiên Thai Quốc Thanh Tự Trí Giả Thiền Sư Bi Văn (天台國清寺智者禪師碑文), cũng có câu: “Hộ giới như minh châu, an tâm như chỉ thủy (護戒如明珠、安心若止水, giữ giới như châu sáng, an tâm giống nước dừng).”