3. Nội Cung Hoàng Tử Nữ Công Tử Nữ Khai Kinh Sớ
Nguyên văn:
內宮皇子女公子女開經疏
伏以
菩提法座、巍乎成而煥乎久、甘露醍醐、及者廣而施者遠、俯陳白楮、仰達青蓮、拜疏爲
大南國兼攝尊人府右尊卿寶豐欽奉敕旨建壇于純毅堅太王祠奉
佛修齋諷經資福酬恩事、維日焚一篆之眞香、禮三身之寶相。
竊惟、(金靈留空紙十六行)玉譜聯芳、金枝分粹、顯秩稠蒙異渥、豐儀久慰潛馨、奉皇情敦攸敘之彝、憑法力普如來之福。兹者序惟天貺、節屬夏薰、晴日催榴火呈祥、南風引荷香獻瑞、三晝連霄之齋筵、載設海會、莊嚴十方之世界、香篆蒙薰、雲臺結葢、諷誦...(如前)
伏願、慧眼照臨、慈心鑒格、協俾金靈如在、逍遙般若之郷、默扶寶祚以增隆、長迓河沙之福、尤願恩周內外、慶及臣民、郡方共沐于春臺、萬禩常和于玉燭。寔賴
諸佛扶持之大力也。謹疏。
Phiên âm:
NỘI CUNG1 HOÀNG TỬ NỮ CÔNG TỬ NỮ KHAI KINH SỚ
Phục dĩ:
Bồ Đề pháp tòa,2 nguy hồ thành nhi hoán hồ cữu; Cam Lộ Đề Hồ,3 cập giả quảng nhi thí giả viễn; phủ trần bạch chử,4 ngưỡng đạt Thanh Liên.
Bái sớ vị: Đại Nam Quốc Kiêm Nhiếp Tôn Nhân Phủ5 Hữu Tôn Khanh Bảo Phong khâm phụng sắc chỉ kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; duy nhật phần nhất triện chi chơn hương, lễ Tam Thân6 chi bảo tướng.7
Thiết duy: (kim linh lưu không chỉ thập lục hàng) Ngọc phổ liên phương, kim chi phân túy; hiển chật8 trù mông dị ác, phong nghi9 cữu úy tiềm hinh; phụng Hoàng tình10 đôn du thoa chi di, bằng pháp lực phổ Như Lai chi phước. Tư giả tự duy thiên huống,11 tiết thuộc Hạ huân; tình nhật thôi lựu hỏa trình tường, nam phong dẫn hà hương hiến thụy; tam trú liên tiêu chi trai diên,12 tải thiết hải hội; trang nghiêm thập phương chi thế giới; hương triện mông huân, vân đài kết cái; phúng tụng … (như tiền).
Phục nguyện: Huệ Nhãn13 chiếu lâm, từ tâm14 giám cách; hiệp tỷ kim linh như tại, tiêu dao Bát Nhã15 chi hương; mặc phò bảo tộ tăng long, trường nhạ hà sa chi phước; vưu nguyện ân châu nội ngoại, khánh cập thần dân; quận phương cọng mộc vu xuân đài, vạn tự thường hòa vu ngọc chúc.15Thật lại chư Phật phò trì chi đại lực dã. Cẩn sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ KHAI KINH CÚNG HOÀNG TỬ NỮ CÔNG TỬ NỮ NỘI CUNG
Cúi nghĩ:
Pháp tòa Bồ Đề, lớn thay thành mà đổi thay bền; Cam Lộ Đề Hồ, khắp thì rộng mà cho thì xa; kính dâng giấy trắng, trông thấu đài sen.
Sớ tâu: Việc Hữu Tôn Khanh Bảo Phong, Kiêm Nhiếp Tôn Nhân Phủ, nước Đại Nam, vâng mạng sắc chỉ lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn. Hôm nay đốt một nén ấy chơn hương, lạy Ba Thân muôn tướng báu.
Nép nghĩ: (để 16 hàng trống để ghi tên chư vị kim linh) Phổ ngọc thơm hoài, cành vàng tinh túy; quan vị nhiều bao ân sủng, phong nghi an ủi thơm thầm; vâng lòng vua dốc trật tự luân thường, nương pháp lực khắp Như Lai ân phước. Hôm nay trời ban đúng dịp, tiết thuộc Hè thơm; trời tạnh giục hoa Lựu điềm lành, gió nam mang hương sen hiến cúng; suốt ba ngày đêm ấy cỗ chay, thiết bày hội lớn; trang nghiêm mười phương bao thế giới, hương nén ngát thơm, đài mây kết lọng, trì tụng …(như trước)
Cúi mong: Mắt tuệ sáng soi, tâm từ chứng giám; giúp đỡ kim linh còn đó, tiêu dao Bát Nhã quê hương; thầm phò ngôi báu được dài lâu, luôn đón hà sa phước đức; lại mong ơn khắp nội ngoại, vui đến thần dân; khắp nơi cùng hưởng đài Xuân, muôn năm thường hòa ấy đuốc ngọc. Ngưỡng lạy chư Phật phò giúp năng lực lớn. Kính dâng sớ.
Chú thích:
- Nội cung (內宮): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ chung cho Lục Cung của thiên tử. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Thiên Quan (天官), Nội Tể (內宰) có câu: “Hội nội cung chi tài dụng (會內宮之財用, tập trung lại tài dụng của sáu cung).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Hán giải thích rằng: “Kế phu nhân dĩ hạ sở dụng tài (計夫人以下所用財, tính từ phu nhân trở xuống đã dùng tài vật).” (2) Chỉ cho hậu cung. Như trong Pháp Hoa Kinh Chỉ Chưởng Sớ Sự Nghĩa (法華經指掌疏事義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 33, No. 632), phần Tăng Hựu Luật Sư (僧祐律師), có đoạn: “Niên suy cước tật, sắc thừa dư nhập nội cung, vi Lục Cung thọ giới, Lương Lâm Xuyên Vương, Nam Bình Vương đẳng, tinh sùng kỳ giới phạm (年衰腳疾、勅乘輿入內宮、爲六宮受戒、梁臨川王、南平王等、幷崇其戒範, Luật Sư năm tháng suy yếu, chân bị đau, vua ban sắc chỉ cho ngồi xe vào cung nội, vì Lục Cung mà truyền giới, Lương Lâm Xuyên Vương, Nam Bình Vương, v.v., đều tôn sùng giới pháp của sư).” (3) Chỉ cho tử cung của người nữ.
- Pháp tòa (法座): có ba nghĩa khác nhau. (1) Tòa ngồi của chư Phật. (2) Tòa ngồi của vị tăng thuyết pháp. (3) Chỗ ngồi của hội chúng tập trung nghe thuyết pháp. Như trong Phật Thuyết Trừ Cái Chướng Bồ Tát Sở Vấn Kinh (佛說除蓋障菩薩所問經, Taishō Vol. 14, No. 489) quyển 14 có đoạn: “Thiện nam tử, thử nhất tọa giả thị vị nhất thiết trí tòa, diệc danh pháp tòa; thị cố Bồ Tát nhất đăng kỳ tòa nhi vĩnh bất động, thị tức danh vi nhất tọa chi pháp (善男子、此一坐者是謂一切智座、亦名法座、是故菩薩一登其座而永不動、是卽名爲一坐之法, Nầy thiện nam tử ! Tòa ngồi nầy là chỗ ngồi của tất cả trí tuệ, cũng gọi là pháp tòa; cho nên vị Bồ Tát một khi đã lên tòa nầy thì vĩnh viễn bất động, đó tức gọi là pháp một tòa ngồi).” Hay trong Hoa Nghiêm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Tu Chứng Nghi (華嚴普賢行願修證儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1472), phần Khải Thỉnh Thánh Hiền (啟請聖賢) thứ 7, cũng có đoạn: “Hành giả sơ nhập đạo tràng, xưng niệm Phổ Hiền Bồ Tát, toàn nhiễu nhất tráp, chí pháp tòa tiền, phu ni sư đàn, chánh thân hiệp chưởng trữ lập (行者初入道塲、稱念普賢菩薩、旋遶一匝、至法座前、敷尼師壇、正身合掌佇立, hành giả ban đầu mới vào đạo tràng, xưng niệm Phổ Hiền Bồ Tát, đi nhiễu quanh một vòng, đến trước pháp tòa, trải Tọa Cụ ra, thân ngay thẳng chấp tay đứng hồi lâu).”
- Đề Hồ (s: maṇḍa, sarpir-maṇḍa, p: maṇḍa, sappi-maṇḍa, 醍醐): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ loại dầu tinh chất được chế thành từ ván sữa; màu vàng trắng, đem làm bánh, rất ngọt và béo. (2) Chỉ cho một loại rượu ngon. (3) Là một trong 5 vị, tức sữa, cạo sữa, ván sữa sống, ván sữa chín và đề hồ; nên có tên gọi là Đề Hồ Vị (醍醐味). (4) Vì Đề Hồ là vị ngon nhất trong các loại sữa, nên Phật Giáo dùng để chỉ Niết Bàn, Phật tánh, giáo lý chân thật. Trong kinh điển Hán dịch của Phật Giáo Trung Quốc thời kỳ đầu, Đề Hồ có nghĩa là “bản chất, tinh túy.” Ngoài ra, Đề Hồ còn được dùng như là một phương thuốc chữa bệnh; như trong chương Tây Vức (西域) của Ngụy Thư (魏書) có đoạn: “Tục tiễn phát tề mi, dĩ Đề Hồ đồ chi, dục dục nhiên quang trạch, nhật tam tháo thấu, nhiên hậu ẩm thực (俗剪髮齊眉、以醍醐塗之、昱昱然光澤、日三澡漱、然後飲食, có tục lệ cắt tóc xén lông mày, lấy Đề Hồ thoa lên, hong nắng ánh sáng, một ngày tắm giặt ba lần, sau đó mới ăn uống).” Quyển 596 của Toàn Đường Văn (全唐文), bài Tống Thái Chiểu Hiếu Liêm Cập Đệ Hậu Quy Mân Cận Tỉnh Tự (送蔡沼孝廉及第後歸閩覲省序) của Âu Dương Chiêm (歐陽詹, 756-798) lại có đoạn rằng: “Phanh nhũ vi Đề Hồ, đoán kim vi càn tương, dự kỳ phanh đoán dĩ biến hóa (烹乳爲醍醐、鍛金爲乾將、予期烹鍛以變化, nấu sữa thành Đề Hồ, nung vàng làm kiếm tốt, chờ đợi lúc nấu và rèn biến hóa).” Đại Thừa Lý Thú Lục Ba La Mật Đa Kinh (大乘理趣六波羅蜜多經, Taishō Vol. 8, No. 261) quyển 1 có giải thích rằng: “Khế Kinh như nhũ, điều phục như lạc, Đối Pháp Giáo giả như bỉ sanh tô, Đại Thừa Bát Nhã do như thục tô, Tổng Trì Môn giả thí như Đề Hồ. Đề Hồ chi vị, nhũ, lạc, tô trung vi diệu đệ nhất, năng trừ chư bệnh, linh chư hữu tình thân tâm an lạc. Tổng Trì Môn giả, Khế Kinh đẳng trung tối vi đệ nhất, năng trừ trọng tội, linh chư chúng sanh giải thoát sanh tử, tốc chứng Niết Bàn an lạc pháp thân (契經如乳、調伏如酪、對法敎者如彼生酥、大乘般若猶如熟酥、總持門者譬如醍醐。醍醐之味、乳、酪、酥中微妙第一、能除諸病、令諸有情身心安樂。總持門者、契經等中最爲第一、能除重罪、令諸眾生解脫生死、速證涅槃安樂法身, Khế Kinh như sữa, điều phục như cạo sữa, giáo lý Đối Pháp giống như ván sữa sống, Bát Nhã Đại Thừa như ván sữa chín, Tổng Trì Môn ví như Đề Hồ. Vị của Đề Hồ vi diệu số một trong các loại sữa, cạo sữa, ván sữa; có thể trừ các bệnh, khiến cho thân tâm chúng hữu tình được an lạc. Tổng Trì Môn là số một trong Khế Kinh, v.v., có thể trừ các tội nặng, khiến các chúng sanh giải thoát sanh tử, mau chứng Niết Bàn, pháp thân an lạc).” Do vì Đề Hồ được xem như là giáo lý tối thượng, Phật tánh, v.v.; cho nên xuất hiện thuật ngữ “Đề Hồ Quán Đảnh (醍醐灌頂)” để ví dụ cho việc lấy giáo pháp tối thượng giúp người hành trì để chuyển hóa vô minh, phiền não và đạt được mát mẻ, an lạc. Như trong bài thơ Hành Lộ Nan (行路難) của Cố Huống (顧況, 725-814) có câu: “Khởi tri quán đảnh hữu Đề Hồ, năng sử thanh lương đầu bất nhiệt (豈知灌頂有醍醐、能使清涼頭不熱, sao biết quán đảnh có Đề Hồ, thể khiến mát trong không nóng).” Hay trong bài Ta Lạc Phát (嗟落髮) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) cũng có câu: “Hữu như Đề Hồ quán, tọa thọ thanh lương lạc (有如醍醐灌、坐受清涼樂, lại như rưới Đề Hồ, ngồi thọ vui mát mẻ).” Lại như trong bài Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh Tự (大乘本生心地觀經序) của vua Hiến Tông (憲宗, tại vị 805-820) nhà Đường có đoạn: “Tỉ phi duyệt chi giả Cam Lộ sái ư tâm điền, hiểu ngộ chi giả Đề Hồ lưu ư tánh cảnh (俾披閱之者甘露灑於心田、曉悟之者醍醐流於性境, người đọc kỹ nó như Cam Lộ rưới nơi ruộng tâm, người hiểu ngộ được nó như Đề Hồ chảy vào cảnh giới tánh).” Bên cạnh đó, trong bài Thật Tế Tự Cố Tự Chủ Hoài Uẩn Phụng Sắc Tặng Long Xiển Đại Pháp Sư Bi Minh (實際寺故寺主懷惲奉敕贈隆闡大法師碑銘) của Đổng Hạo (董浩) nhà Thanh cũng có đoạn: “Tri dữ bất tri, ngưỡng Đề Hồ ư cú kệ, thức dữ bất thức, tuân pháp nhũ ư ba lan (知與不知、仰醍醐於句偈、識與不識、詢法乳於波瀾, biết và không biết, kính Đề Hồ từng câu kệ, hiểu và không hiểu, tin sữa pháp nơi sóng cả).” Ngay như trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 31 có câu: “Na Sa Tăng nhất văn Tôn Ngộ Không tam cá tự, tiện hảo tợ Đề Hồ quán đảnh, Cam Lộ tư tâm (那沙僧一聞孫悟空三個字、便好似醒醐灌頂、甘露滋心, Sa Tăng một khi nghe được ba chữ Tôn Ngộ Không, tức thì giống như nước Đề Hồ rưới đầu, Cam Lộ rửa tâm).” Trong bài tán Kinh Pháp Hoa cũng có đề cập đến Đề Hồ như: “Hầu trung Cam Lộ quyên quyên nhuận, khẩu nội Đề Hồ đích đích lương (喉中甘露涓涓潤、口內醍醐滴滴涼, dưới cổ Cam Lộ rả rích nhỏ, trong miệng Đề Hồ giọt giọt tươi).”
- Bạch chử (白楮): giấy trắng làm bằng vỏ cây. Như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252), quyển 2, văn sớ Thu Kỳ Tình (秋祈晴) có đoạn: “Vân giá phù hoàng hỷ hữu thu thành chi hầu, vũ hoa thùy bạch nãi vô hưu tức chi thời, viên sư đơn trung, kính trình bạch chử (雲稼浮黃喜有收成之侯、雨花垂白乃無休息之時、爰攄丹衷、敬呈白楮, lúa tốt ửng vàng mừng có thu hoạch ấy dịp, mưa hoa trắng xóa lại không yên nghĩ thời kỳ, bày tấc lòng thành, kính trình giấy trắng).”
- Tôn Nhân Phủ, Tôn Nhơn Phủ (尊人府): nguyên lai từ nầy là Tông Nhân Phủ (宗人府). Như đã giải thích ở trên, chữ tông (宗) thành tôn (尊) vì tránh đọc tên húy của vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Miên Tông (阮福綿宗), v.v. Tông Nhân Phủ là cơ cấu cổ đại của lịch sử Trung Quốc, chuyên quản lý Hoàng gia và sự việc tông thất; chưởng quản danh sách tông họ 9 tộc của Hoàng đế, chọn đúng lúc chọn viết tộc phổ đế vương, ghi lại những việc như tên tuổi, phong hiệu, tước vị, thời gian sống chết, hôn giá, thụy hiệu, an táng của các vợ cả, vợ thứ, người nữ trong tông thất. Đây cũng là cơ quan chuyên ghi nhận những thỉnh cầu, tường trình của tông thất, thay thế người khác báo cáo lên Hoàng đế, đề cử người hiền tài có khả năng, ghi chép tội lỗi, sai lầm, v.v. Cơ quan nầy được thiết lập đầu tiên vào năm 1370 (Hồng Võ [洪武] thứ 3) thời nhà Minh với tên gọi là Đại Tông Chánh Viện (大宗正院); và đến năm 1389 (Hồng Võ thứ 22) thì đổi thành Tông Nhân Phủ. Vị quan đứng đầu cơ quan nầy là Tông Nhân Lịnh (宗人令) và chức nầy thường do Thân Vương đảm nhiệm. Tuy nhiên, về sau từ sự việc quan Đại Thần ngoại thích, không thuộc hoàng tộc mà vốn có công trạng lớn với triều đình, kiêm quản lý Tông Nhân Phủ, cơ quan nầy lại thuộc quyền chưởng quản của Bộ Lễ. Tương tự như vậy, tại Việt Nam, Tôn Nhân Phủ hay Tôn Chính Phủ là cơ quan quản lý nội bộ Hoàng tộc thời phong kiến. Nhiệm vụ của phủ này là trông nom sổ sách, ngọc phả, đền miếu trong Hoàng tộc; giải quyết các vấn đề có liên quan đến các thân vương, công tử, công tôn, v.v. Cơ quan nầy bắt đầu có từ thời nhà Trần (1226-1400), với tên gọi là Tôn Chính Phủ, do Đại Tôn Chính đứng đầu, chuyên trách việc soạn gia phả Hoàng tộc. Đến thời Lê Trung Hưng (1533-1789), cơ quan này được đổi thành Tôn Nhân Phủ, trực tiếp điều hành là Tôn Nhân Lệnh, một người trong hoàng tộc có cấp bậc cao được vua cử. Đặc biệt, dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945), Tôn Nhân Phủ chuyên trách các công việc của Hoàng tộc, từ việc chọn người kế vị đến việc cắt cử người hầu, do vua trực tiếp điều hành; bên dưới là Hội Đồng Tôn Nhân Phủ do một đại thần có uy tín, cùng Tả Tôn Khanh (左尊卿) và Hữu Tôn Khanh (右尊卿) đều là người trong Hoàng tộc, phụ trách. Thời Pháp thuộc, từ năm 1897 (Thành Thái [成泰] thứ 9), Hội Đồng Tôn Nhân Phủ đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Tòa Khâm Sứ Trung Kỳ. Dưới thời nhà Nguyễn, vào năm 1836 (Bính Thân, Minh Mạng [明命] thứ 17), vua Thánh Tổ thiết lập Tôn Nhân Phủ và đặt quan chức để coi mọi việc ở trong họ tộc của nhà vua. Nhà vua thờ chư vị tiên tổ tại 7 ngôi miếu; những miếu phía tả gọi là chiêu (昭), phía hữu gọi là mục(穆). Con cháu thuộc các dòng chiêu hay mục phải phân biệt rõ ràng chi nào ra chi đó. Ngài còn đặt ra chức Tôn Nhân Lệnh (尊人令) một người, Tả Hữu Tôn Chính hai người, Tả Hữu Tôn Nhân hai người, để trông coi việc Hoàng tộc và việc phân biệt thứ tự hàng chiêu hàng mục, ghi chép hàng lượt người thân người sơ, việc nuôi nấng và cấp tước lộc cho mọi người trong Hoàng tộc; lại đặt ra Tả Hữu Tôn Khanh hai người, Tả Hữu Tá Lý hai người, để coi thứ trật mọi người tôn thất và việc cấp dưỡng cho những người cô ấu, giúp đỡ việc tang hôn, v.v. Từ khi thành lập vào năm 1836, Tôn Nhân Phủ đã trải qua chư vị kiêm nhiếp (theo thứ tự thời gian) như: Tả Tôn Chính có Trường Khánh Công (tức vua Thiệu Trị khi còn là Hoàng Tử, 9/1836~1/1840), Thọ Xuân Vương (1/1840~10/1885); Hữu Tôn Chính Hòa Đức Quận Vương (10/1885~2/1889); Tả Tôn Chính Tuy Lý Vương (2/1889~10/1897); Tả Tôn Nhân An Xuyên Vương (10/1897~8/1899); Hữu Tôn Nhân Hoằng Trị Vương (8/1899~8/1902); Tả Tôn Chính An Thành Vương (8/1902~2/1920); Ưng Huy (2/1920~2/1922); Tôn Thất Trạm (2/1922~2/1928); Tôn Thất Đàng (2/1928~2/1929); Hữu Trạch (1/1929~2/1933); Ưng Bàng (2/1933~1/1935); Ưng Trình (1/1935~1/1940); Tôn Thất Cổn (5/1942), v.v. (Theo nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/Tôn_Nhân_Phủ)
- Tam Thân (s: tri-kāya, 三身): ba loại thân của Phật, gồm có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), Báo Thân (s: sambhoga-kāya, 報身) và Ứng Thân (s: nirmāṇa-kāya, 應身). Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình mà đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như. Báo Thân là thân Phật có tướng tốt hiển hiện tùy theo hạnh nguyện của nhân vị, tích chứa các hạnh làm nhân để thành Phật và đầy đủ công đức. Ứng Thân là thân Phật hóa hiện ứng theo căn cơ của chúng sanh. Theo Pháp Tướng Tông, Tam Thân là Tự Tánh Thân (自性身), Thọ Dụng Thân (受用身) và Biến Hóa Thân (變化身). Tự Tánh Thân tương đương với Pháp Thân, là thân nương tựa vào Thọ Dụng Thân và Biến Hóa Thân. Thọ Dụng Thân là thân để thọ dụng pháp lạc, gồm có 2 loại: Tự Thọ Dụng Thân (自受用身) và Tha Thọ Dụng Thân (他受用身). Tự Thọ Dụng Thân tương đương với Báo Thân và Tha Thọ Dụng Thân thì ứng với Ứng Thân. Còn Biến Hóa Thân là thân thị hiện đem lại lợi ích cho hàng Bồ Tát trước khi vào Thập Địa cũng như chúng sanh. Trong Thiếu Thất Lục Môn (少室六門, Taishō Vol. 48, No. 2009) có giải thích về Tam Thân rằng: “Phật hữu Tam Thân giả, Hóa Thân Báo Thân Pháp Thân; nhược chúng sanh thường tác thiện căn, tức Hóa Thân hiện; tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; giác Vô Vi tức Pháp Thân hiện; phi đằng thập phương tùy nghi cứu tế giả, Hóa Thân Phật dã; đoạn cảm tu thiện Tuyết Sơn thành đạo giả, Báo Thân Phật dã; vô ngôn vô thuyết trạm nhiên thường trú giả, Pháp Thân Phật dã (佛有三身者、化身報身法身、若眾生常作善根、卽化身現、修智慧卽報身現、覺無爲卽法身現、飛騰十方隨宜救濟者、化身佛也、斷惑修善雪山成道者、報身佛也、無言無說湛然常住者、法身佛也, Phật có ba thân là Hóa Thân, Báo Thân, và Pháp Thân; nếu chúng sanh thường tạo căn lành, tức Hóa Thân hiện; nếu tu trí tuệ tức Báo Thân hiện; hiểu rõ Vô Vi tức Pháp Thân hiện; thân bay cùng khắp mười phương, tùy nghi cứu độ là Hóa Thân Phật; thân đoạn trừ các hoặc, tu thiện và thành đạo ở Tuyết Sơn là Báo Thân Phật; thân không nói lời nào, không thuyết lời nào, vắng lặng thường trú là Pháp Thân Phật).” Tại Chánh Điện Chùa Trúc Lâm, thành phố Huế, có câu đối rằng: “Hương lí kết tường vân Tam Thân viên hiển, hoa khai trình diệu tướng Thập Hiệu hùng tôn (香裡結祥雲三身圓顯、花開呈妙相十號雄尊, trong hương kết mây lành Ba Thân lộ rõ, hoa nở trình tướng báu Mười Hiệu hùng tôn).” Trong Dục Phật Công Đức Kinh (浴佛功德經, Taishō Vol. 16, No. 698) có đoạn rằng: “Chư Phật Thế Tôn cụ hữu Tam Thân, vị Pháp Thân, Thọ Dụng Thân, Hóa Thân; ngã Niết Bàn hậu, nhược dục cúng dường thử Tam Thân giả, đương cúng dường Xá Lợi (諸佛世尊具有三身、謂法身、受用身、化身、我涅槃後、若欲供養此三身者、當供養舍利, các đức Phật Thế Tôn có đủ Ba Thân, là Pháp Thân, Thọ Dụng Thân, Hóa Thân; sau khi ta nhập Niết Bàn, nếu ai muốn cúng dường Ba Thân nầy, phải nên cúng dường Xá Lợi).”
- Bảo tướng (寶相): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho hình tượng đế vương. Như trong bài Văn Tương Hoàng Đế Kim Tượng Minh (文襄皇帝金像銘) của Hình Thiệu (邢邵, 496-?) nhà Bắc Tề có câu: “Thần nghi nội oánh, bảo tướng ngoại tuyên (神儀內瑩、寶相外宣, dáng thần trong sáng, tướng báu ngoài rõ).” (2) Tên của loài hoa, thuộc một loại của hoa Tường Vi. (3) Chỉ hình tướng của chư Phật trang nghiêm, tôn quý như của báu. Như trong bài Đầu Đà Tự Bi Văn (頭陀寺碑文) của Vương Triệt (王屮, ?-?) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Kim tư bảo tướng, vĩnh tạ nhàn an (金資寶相、永藉閑安, dáng vàng tướng báu, mãi hiện an nhàn).” Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 5, phần Chư Ban Kệ Tán Môn (諸般偈讚門), có câu: “Vạn thánh khuynh tâm chiêm bảo tướng, cửu long phún thủy dục kim thân (萬聖傾心瞻寶相、九龍吐水浴金身, muôn thánh dốc lòng xem tướng báu, chín rồng phun nước tắm thân vàng).”
- Hiển chật (顯秩): quan vị hiển hách. Như trong bài Dương Kinh Châu Lụy (楊荆州誄) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tấn có câu: “Dụng tích sĩ vũ, ưng tư hiển chật (用錫土宇、膺茲顯秩, ban cho nhà cửa, nhận lấy quan vị).” Hay trong tác phẩm Kim Liên Ký (金蓮記), phần Khống Đại (控代) của Trần Nhữ Nguyên (陳汝元, ?-?) nhà Minh có đoạn: “Tưởng Tô Thức tự phụ kỳ tài, kí trăn hiển chật, kim trí ngoại quận, trung đa quyết vọng nhĩ (想蘇軾自負奇才、覬臻顯秩、今置外郡、中多觖望耳, tưởng Tô Thức tự phụ vào tài năng đặc biệt của mình, mong muốn được quan vị hiển hách; nay an trí tại quận ngoài xa, trong lòng nhiều oán trách vậy).”
- Phong nghi (豐儀、丰儀): thể hiện phong độ uy nghi. Như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 55, bài Đại Minh Lô Sơn Ngũ Nhũ Phong Pháp Vân Thiền Tự Tiền Trung Hưng Tào Khê Từ Pháp Hám Sơn Đại Sư Tháp Minh (大明廬山五乳峰法雲禪寺前中興曹溪嗣法憨山大師塔銘), có đoạn: “Phục như Tào Khê, đương niên chi thất thập hữu bát, lạp chi lục thập, thị vi Thiên Khải Quý Hợi, tiên ư huyền hồ giả nhất nhật nhi thị tịch yên, sư phong nghi từ mãn, thần tình ngưng định, vọng chi tợ A La Hán (復如曹溪、當年之七十有八、臘之六十、是爲天啟癸亥、先於懸弧者一日而示寂焉、師丰儀慈滿、神情凝定、望之似阿羅漢, lại như Tào Khê, năm ấy là bảy mươi tám tuổi, Hạ lạp sáu mươi, nhằm vào năm Quý Hợi [1623] niên hiệu Thiên Khải [đời vua Hy Tông nhà Minh], trước ngày nhà vua sanh con trai thì thị tịch vậy; sư có phong thái từ bi, thần tình định tĩnh, nhìn vào giống như A La Hán).”
- Hoàng tình (皇情): tình ý của hoàng đế. Như trong bài Tề An Lục Chiêu Vương Bi (齊安陸昭王碑) của Thẩm Ước (沉約, 441-513) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Hoàng tình quyến quyến, lự thâm cầu mạc (皇情眷眷、慮深求瘼, tình vua quyến luyến, lo sâu sanh bệnh).” Hay trong bài Tùy Phương Khâu Ca (隋方丘歌) của Giao Miếu Ca Từ (郊廟歌辭) thuộc Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) cũng có câu: “Hoàng tình kiền, cụ liêu túc (皇情虔、具寮肅, tình vua bền chặt, quan lại nghiêm túc).”
- Thiên huống (天貺): ân sủng trời ban. Như trong Thông Dịch Luận (通易論) của Nguyễn Tịch (阮籍, ?-?) nhà Ngụy thời Tam Quốc có câu: “Chiêu minh kỳ đạo, dĩ đáp thiên huống (昭明其道、以答天貺, sáng tỏ đạo ấy, để đáp ơn trời).” Hay trong bài Thành Quân Phúng (成均諷) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường lại có câu: “Cố dĩ cảm động thiên huống, cương kỷ nhân luân (故以感動天貺、紀綱人倫, nên lấy sự cảm động ơn trời ban để làm kỷ cương luân lý con người).” Hiện tại dân gian Trung Quốc vẫn còn lưu hành Thiên Huống Tiết (天貺節) vào ngày mồng 6 tháng 6 Âm Lịch. Thời xưa, dân gian Hoài An (淮安) thuộc tỉnh Giang Tô (江蘇省) có tập tục gọi là Sái Hồng Lục (曬紅綠) vào ngày mồng 6 tháng 6. Tương truyền tập tục nầy xuất phát từ thời nhà Đường (唐, 618-907). Huyền Trang (玄奘, 602-664), cao tăng nhà Đường, sang Tây Thiên thỉnh kinh, trên đường trở về nước, khi đi ngang qua biển, một số kinh điển bị rơi xuống biển, ẩm ướt, nên vào ngày mồng 6 tháng 6 nầy người ta lấy kinh văn ra để phơi khô. Từ đó, ngày nầy trở thành ngày tốt lành. Khởi đầu, vào ngày nầy trong hoàng cung tiến hành phơi Long Bào của nhà vua, sau đó tập tục nầy được lưu truyền ra dân gian. Vào đúng ngày nầy, nhà nào cũng đem áo quần ra phơi nơi cổng nhà. Vì vậy, ở Dương Châu (揚州) vẫn có câu ngạn ngữ rằng: “Lục nguyệt lục gia gia sái hồng lục (六月六家家曬紅綠, mồng sáu tháng sáu nhà nhà phơi áo quần).”
- Trai diên (齋筵): cỗ chay. Như trong bài văn Quảng Châu Bảo Trang Nghiêm Tự Xá Lợi Tháp Bi (廣州寶莊嚴寺舍利塔碑) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường có đoạn: “Giảng tứ hoành sưởng, trai diên cự dực, cúng dẫn Thuần Đà, phạn hồi Hương Tích (講肆宏敞、齋筵巨翼、供引純陀、飯迴香積, hội giảng rộng mở, cỗ chay khắp bày, cúng theo Thuần Đà, cơm về Hương Tích).” Hay trong chương Văn Tông Kỷ (文宗紀) của Cựu Đường Thư (舊唐書) có câu: “Quảng trí trai diên, đại tập tăng chúng (廣置齋筵、大集僧眾, rộng thiết cỗ chay, tập trung tăng chúng).” Trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 11, phần Phục Long Thiên Nham Trường Thiền Sư (伏龍千巖長禪師), có đoạn: “Thời Trung Phong Bổn Hòa Thượng, ngụ Hàng Thành Vân Cư Lan Nhã, hội phó Thừa Tướng Phủ trai, công đắc bái kiến ư trai diên (時中峰本和尚、寓杭城雲居蘭若、會赴丞相府齋、公得拜見於齋筵, lúc bấy giờ Hòa Thượng Trung Phong Minh Bổn, trú tại Vân Cư Lan Nhã thuộc Hàng Châu, đến dự tiệc chay tại Phủ Thừa Tướng, Thiền Sư được dịp bái kiến Hòa Thượng tại tiệc chay đó).” Hay như trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 10, phần Trai Tăng Nghi (齋僧儀), có giải thích rằng: “Trai tăng chi pháp dĩ kính vi tông, đản y tăng thứ duyên nghênh, bất đắc vọng sanh khinh trọng, phàm phu nhục nhãn thùy biện thánh hiền, ngộ khởi khinh tâm định chiêu bạc phước, hoặc hữu thân lâm Phạm sát tựu thiết trai diên, thử nhân lai thế chi trung, tất cảm tự nhiên chi báo (齋僧之法以敬爲宗、但依僧次延迎、不得妄生輕重、凡夫肉眼誰辨聖賢、誤起輕心定招薄福、或有親臨梵剎就設齋筵、此人來世之中、必感自然之報, pháp cúng dường trai tăng lấy sự kính trọng làm chính, chỉ cần tùy theo chư tăng đến mà đón rước, không được sanh tâm khinh trọng, mắt thịt phàm phu ai biết được đâu là thánh hiền, lỡ như sanh khởi tâm khinh thường thì nhất định rước chịu phước mỏng; hoặc nếu có vị thân lâm đến chùa chiền thì thiết bày cỗ chay, người nầy trong đời tương lai, ắt hẳn cảm được quả báo tự nhiên).”
- Huệ Nhãn, Tuệ Nhãn (慧眼): có ba nghĩa khác nhau. (1) Là thuật ngữ Phật Giáo, chỉ cho một trong Ngũ Nhãn (s: pañca cakṣūṃṣi, p: pañca cakkhūni, 五眼), tức là con mắt trí tuệ của Nhị Thừa; cũng chỉ chung cho trí tuệ có thể chiếu thấy rõ thật tướng của các pháp. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475), quyển Trung, Phẩm Nhập Bất Nhị Pháp Môn (入不二法門品) có giải thích về Huệ Nhãn rằng: “Thật kiến giả thượng bất kiến thật, hà huống phi thật, sở dĩ giả hà ? Phi nhục nhãn sở kiến, Huệ Nhãn nãi năng kiến, nhi thử Huệ Nhãn, vô kiến vô bất kiến, thị vi nhập Bất Nhị pháp môn (實見者尚不見實、何況非實、所以者何、非肉眼所見、慧眼乃能見、而此慧眼、無見無不見、是爲入不二法門, cái thấy thật còn không thấy thật thay, huống gì chẳng phải thật, vì cớ sao vậy ? Chẳng phải mắt thịt thấy được, mà Huệ Nhãn [con mắt trí tuệ] mới có thể thấy, mà Huệ Nhãn nầy, không thấy và không phải không thấy, đó là đi vào pháp môn Không Hai).” Hay trong bài thơ Tặng Am Trung Lão Tăng (贈庵中老僧) của Đường Thuận Chi (唐順之, 1507-1560) nhà Minh có câu: “Nghiệp tịnh Lục Căn thành Huệ Nhãn, thân vô nhất vật ký mao am (業淨六根成慧眼、身無一物寄茅庵, nghiệp sạch Sáu Căn thành Huệ Nhãn, thân không một vật gởi am tranh).” Trong Viên Giác Kinh Giáp Tụng Tập Giải Giảng Nghĩa (圓覺經夾頌集解講義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 253) còn cho biết rằng: “Thâm ngộ luân hồi tức Huệ Nhãn, phân biệt tà chánh tức Pháp Nhãn; nhiên Huệ Nhãn chứng chơn, Pháp Nhãn đạt sự; hựu Huệ Nhãn tức Căn Bản Trí, Pháp Nhãn tức Hậu Đắc Trí (深悟輪迴卽慧眼、分別邪正卽法眼、然慧眼證眞、法眼達事、又慧眼卽根本智、法眼卽後得智, biết sâu luân hồi tức là Huệ Nhãn, phân biệt đúng sai tức là Pháp Nhãn; tuy nhiên Huệ Nhãn thì chứng chơn, Pháp Nhãn thì đạt về sự; lại nữa, Huệ Nhãn tức là Căn Bản Trí, Pháp Nhãn tức là Hậu Đắc Trí).” (2) Nhãn lực nhạy bén, tinh anh. Như trong tập Âu Bắc Thi Thoại (甌北詩話), bài Ngô Mai Thôn Thi (吳梅村詩) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh có câu: “Thử thi nhân huệ nhãn, thiện ư thủ đề xứ (此詩人慧眼、善於取題處, con mắt nhạy bén của nhà thơ nầy, khéo ở chỗ nắm bắt đề tài).” Hay trong tập Dạ Thu Vũ Đăng Lục (夜雨秋燈錄), Truyện A Hàn (阿韓傳) của tiểu thuyết gia Tuyên Đỉnh (宣鼎, 1832-1880) nhà Thanh lại có câu: “Nhi Hàn năng ư phong trần trung độc cụ tuệ nhãn, nữ hiệp dã (而韓能於風塵中獨具慧眼、女俠也, mà trong phong trần, riêng một mình A Hàn có thể có đủ con mắt tinh anh, đúng là nữ hiệp vậy).” (3) Chỉ cho tròng mắt đẹp. Như trong tập đề vịnh Hồng Vi Cảm Cựu Ký (紅薇感舊記) do Phó Truân Cấn (傅屯艮, 1883-1930, tự Văn Lương [文渠]) sáng tác, có câu: “Năng tương huệ nhãn khán tài tử, khảng khái bi ca úy tịch liêu (能將慧眼看才子、慷慨悲歌慰寂寥, thường lấy mắt đẹp nhìn tài tử, hăng hái buồn ca sợ tịch liêu).”
- Từ tâm (慈心): chỉ cho tâm từ bi, thương xót và luôn đem niềm vui đến cho mọi người và mọi loài; là một trong Tứ Vô Lượng Tâm (四無量心). Như trong Bát Quan Trai Kinh (八關齋經, Taishō Vol. 1, No. 89) giải thích rằng: “Do như A La Hán, tận hình thọ bất sát sanh, diệc bất giáo nhân sát sanh, vô oán hận tâm đương hoài tàm quý, hữu từ tâm mẫn nhất thiết chúng sanh (猶如阿羅漢、盡形壽不殺生、亦不敎人殺生、無怨恨心當懷慚愧、有慈心愍一切眾生, giống như A La Hán, suốt cả đời không giết hại sinh vật, cũng không bảo người giết hại sinh vật, không có tâm oán hận, phải luôn xấu hổ, có tâm từ thương tưởng hết thảy chúng sanh).” Hay trong Phật Thuyết Đại Thừa Nhật Tử Vương Sở Vấn Kinh (佛說大乘日子王所問經, Taishō Vol. 12, No. 333) cũng có câu: “Nhữ phát khởi từ tâm thọ trì giới hạnh, quảng lợi hữu tình (汝發起慈心受持戒行、廣利有情, ngươi phát khởi tâm từ thọ trì giới hạnh, đem lợi ích rộng khắp cho chúng hữu tình).”
- Bát Nhã (s: prajñā, p: paññā, 般若): âm dịch là Ba Nhã (波若), Bát Nhã (鉢若), Bát La Nhã (般羅若); ý dịch là tuệ, trí tuệ. Với tác dụng của tâm, đây là trí tuệ lấy sự liễu đạt làm tánh, biết cảnh của Tứ Đế và đoạn trừ hết thảy phiền não sanh tử. Nó còn là trí tuệ đoạn trừ phiền não chướng, sở tri chướng và biết tất cả các pháp hữu vi cũng như vô vi. Là một trong Sáu Ba La Mật, Bát Nhã được tán thán như là mẹ của chư Phật, là yếu tố quan trọng nhất để đạt được quả vị Phật. Nó còn là một trong những hạnh của vị Bồ Tát, là trí tuệ để tạo nhân thành Phật. Từ thời Huệ Năng (慧能hay惠能, Enō, 638-713) trở đi, nó được xem đồng nghĩa với Thiền định. Vua Lý Thái Tông (李太宗, tại vị 1028-1054) có bài thơ đề cập đến Bát Nhã như: “Bát Nhã chân vô tông, nhân không ngã diệc không, quá khứ vị lai Phật, pháp tánh bản lai đồng (般若眞無宗、人空我亦空、過去未來佛、法性本來同, Bát Nhã vốn không tông, người không ta cũng không, quá khứ tương lai Phật, pháp tánh xưa nay cùng).”
Ngọc chúc (玉燭): có 3 nghĩa chính. (1) Chỉ cho bốn mùa khí tiết điều hòa, thông suốt; hình dung cuộc sống thái bình, thịnh vượng. Như trong Nhĩ Nhã (爾雅), chương Thích Thiên (釋天) có câu: “Tứ khí hòa, chánh quang chiếu, thử chi vị ngọc chúc (四氣和、正光照、此之謂玉燭, bốn mùa điều hòa, ánh sáng chiếu tỏ, đây gọi là ngọc chúc).” Học giả trứ danh Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Tây Tấn chú thích là: “Đạo quang chiếu (道光照, bảo là ánh sáng chiếu tỏ).” Hình Bỉnh (邢昺, 932-1010) nhà Bắc Tống lại giải thích rõ thêm rằng: “Đạo quang chiếu giả, đạo, ngôn dã; ngôn tứ thời hòa khí, ôn nhuận minh chiếu, cố viết ngọc chúc (道光照者、道、言也、言四時和氣、溫潤明照、故曰玉燭, đạo quang chiếu, đạo có nghĩa là nói, nói rõ bốn mùa khí tiết điều hòa, ấm áp, ẩm ướt, chiếu sáng, nên gọi là ngọc chúc).” Trong bài Thượng Chấp Chính Tứ Thập Vận (上執政四十韻) của Nhã Hổ (雅琥, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Ngọc chúc điều nguyên khí, kim xu vận đại quân (玉燭調元氣、金樞運大鈞, nến ngọc điều khí tiết, đức vua vận muôn dân).” (2) Từ mỹ xưng của cây nến. Như trong bài thơ Kim Tỏa (金鎖) của cung nhân thời vua Hy Tông (僖宗, tại thế 862-888) nhà Đường có câu: “Ngọc chúc chế bào dạ, kim đao ha thủ tài (玉燭製袍夜、金刀呵手裁, đèn ngọc suốt đêm chế áo bào, đao vàng tay cắt than buốt đau).” (3) Tỷ dụ cho ánh sáng con mắt. Như trong bài thơ Bệnh Mã (病馬) của Tào Đường (曹唐, ?-?) nhà Đường có câu: “Tứ đề bất tạc kim châm liệt, song nhãn dong khai ngọc chúc tà(四蹄不鑿金砧裂、雙眼慵開玉燭斜, bốn móng chẳng đục chày vàng nẻ, hai mắt lững lờ ánh sáng mờ).” Trong Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 1 có đoạn: “Cung nguyện, kim luân thống ngự, thọ đẳng càn khôn, ngọc chúc quân điều, minh du nhật nguyệt (恭願、金輪統御、壽等乾坤、玉燭均調、明踰日月, kính mong đức vua ngự mãi, thọ bằng càn khôn, đèn ngọc thường soi, sáng hơn nhật nguyệt).” Hay trong Lễ Phật Nghi Thức (禮佛儀式, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1492) cũng có đoạn: “Duy nguyện hoàng đồ củng cố, đế đạo hà xương, văn võ lộc tăng, hưng long Tam Bảo, ngọc chúc thường điều, sĩ dân lạc nghiệp, đàn na diễn khánh, bất phùng Tam Tai Bát Nạn, chí thành vô thượng Bồ Đề (惟願皇圖鞏固、帝道遐昌、文武祿增、興隆三寶、玉燭常調、士民樂業、檀那衍慶、不逢三災八難、至成無上菩提, cúi mong cơ đồ củng cố, đạo vua sáng ngời, văn võ lộc thêm, hưng thịnh Tam Bảo, đèn ngọc thường soi, muôn dân lạc nghiệp, thí chủ vui mừng, chẳng gặp Ba Tai Tám Nạn, chứng quả vô thượng Bồ Đề).”