49. Quải Chân Dung Sớ
Nguyên văn:
掛真容疏
伏以
法身常住、本無出入之殊、性體圓明、豈有昇還之異、請安靈座、默鑒微忱。疏爲
大南國...奉于案前、設供請覺靈安座定眞容事。今法子等、惟日仰干尊德、俯鑒微忱
伏爲恭薦尊師徽號和尚之覺靈。
恭惟、尊師性生慈善、相絕我人、繼規範於叢林、行參百丈、著謀猷於禪席、德比萬峯、慧命閱...十年之戒珠、標直指而披雲覩月、降跡閱...十餘之壽歲、謝塵勞而返朴歸眞、爰若入塔事完、禮定覺靈安座、虔具香羞之禮、少伸報本之忱、仰祈尊德以証明、得遂凡心之仔細。
伏願、鷲嶺峯前、高超妙覺之位、寂光土裏、常樂拜相之身、俾釋子敎体圓融、世世重光祖印、道心開朗、辰辰接踵宗門、更冀檀越之人、共證菩提之道、但下情無任激切屛營之至。謹疏。
Phiên âm:
QUẢI CHƠN DUNG SỚ
Phục dĩ
Pháp Thân thường trụ, bổn vô xuất nhập chi thù; tánh thể viên minh, khởi hữu thăng hoàn chi dị; thỉnh an linh tọa, mặc giám vi thầm.
Sớ vị: Đại Nam Quốc … phụng vu án tiền, thiết cúng thỉnh Giác Linh an tọa định chơn dung sự. Kim Pháp tử … đẳng, duy nhật ngưỡng can tôn đức, phủ giám vi thầm.
Phục vị: Cung tiến Tôn Sư huy hiệu Hòa Thượng chi giác linh.
Cung duy: Tôn Sư tánh sanh từ thiện, tướng tuyệt ngã nhân; kế quy phạm ư tùng lâm, hạnh tham Bách Trượng; trước mưu du ư Thiền tịch, đức tỷ vạn phong; huệ mạng duyệt … thập niên chi giới châu, tiêu trực chỉ nhi phi vân đỗ nguyệt; giáng tích duyệt … thập dư chi thọ tuế, tạ trần lao nhi phản phác quy chơn; viên nhược nhập tháp sự hoàn, lễ định Giác Linh an tọa; kiền cụ hương tu chi lễ, thiểu thân báo bổn chi thầm; ngưỡng kỳ tôn đức dĩ chứng minh, đắc toại phàm tâm chi tử tế.
Phục nguyện: Thứu Lãnh1 Phong tiền, cao siêu Diệu Giác chi vị; Tịch Quang Độ lí, thường nhạo bái tướng chi thân; tỷ Thích tử giáo thể viên dung, thế thế trùng quang Tổ ấn; đạo tâm khai lãng, thần thần tiếp chủng tông môn; cánh kí Đàn Việt2 chi nhân, cọng chứng Bồ Đề chi đạo; đản hạ tình vô nhậm kích thiết bình doanh chi chí. Cẩn sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG TREO CHÂN DUNG
Cúi nghĩ:
Pháp Thân thường trụ, vốn không xuất nhập khác đường; tánh thể sáng tròn, sao có đến đi nẻo khác; thỉnh an linh tọa, thầm chứng tấc thành.
Sớ tâu: Việc … nước Đại Nam, vâng đến trước án, dâng cúng thỉnh giác linh an tọa, an định chân dung. Nay Pháp tử … hôm nay ngưỡng trông tôn đức, chứng giám lòng thành.
Cúi vì: Dâng cúng giác linh Tôn sư Hòa Thượng (huy hiệu) …
Nép nghĩ: Tôn sư tánh sinh từ thiện, tướng dứt ta người; kế thừa quy cũ tùng lâm, hạnh tham Bách Trượng; rõ mưu kế nơi Thiền tịch, đức sánh vạn phong; huệ mạng được … mươi năm ấy giới châu, nêu trực chỉ mà vạch mây thấy nguyệt; lưu dấu đã hơn … mươi ấy tuổi thọ, tạ trần lao mà trở về nguồn chơn; nay lúc nhập tháp việc xong, lễ định giác linh an tọa; bày đủ món thơm ấy lễ, chút là báo đáp tấc thành; ngưỡng cầu tôn đức thảy chứng minh, được thỏa phàm tâm ấy tử tế.
Cúi mong: Trước đỉnh Thứu Phong, cao siêu Diệu Giác quả vị; Tịch Quang cõi ấy, thường vui bái tướng pháp thân; khiến Thích tử giáo thể viên dung, đời đời sáng ngời Tổ ấn; đạo tâm khai mở, thường thường tiếp nối tông môn; lại cầu thí chủ muôn dân, cùng chứng bồ đề đạo quả; kẻ hạ tình cảm kích thiết tha âu lo khôn xiết. Kính dâng Sớ.
Chú thích:
- Thứu Lãnh (鷲嶺): xem chú thích Thứu Phong (鷲峰) trong lòng văn Sớ Cúng Vương Phi bên trên.
- Đàn Việt (s: dānapati, 檀越): còn gọi là thí chủ (施主); việt (越) ở đây nghĩa là nhờ công đức bố thí mà vượt qua biển khổ bần cùng. Trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 1, phần Cửu Thọ Trai Quỹ Tắc (九受齋軌則), giải thích rằng: “Phạn vân Đà Na Bát Để, dịch vi thí chủ; Đà Na thị thí, Bát Để thị chủ; nhi vân Đàn Việt giả, bổn phi chánh dịch, lược khử Na tự, thủ thượng Đà âm chuyển danh vi Đàn, cánh gia Việt tự, ý đạo do hành Đàn xả, tự khả việt độ bần cùng (梵云陀那缽底、譯爲施主、陀那是施、缽底是主、而云檀越者、本非正譯、略去那字、取上陀音轉名爲檀、更加越字、意道由行檀捨、自可越渡貧窮, tiếng Phạn là Đà Na Bát Để, dịch là thí chủ; Đà Na là thí, Bát Để là chủ; nhưng nếu gọi Đàn Việt, vốn chẳng phải dịch đúng, bỏ đi chữ Na, lấy âm Đà ở trên chuyển thành Đàn, lại thêm chữ Việt vào, ý nghĩa rằng nhờ thực hành bố thí mà tự mình có thể vượt qua sự bần cùng).” Trong Sưu Thần Hậu Ký (搜神後記) quyển 2 của Đào Tiềm (陶潛, khoảng 365-427) nhà Tấn có đoạn rằng: “Tấn Đại Tư Mã Hoàn Ôn, tự Nguyên Tử, mạt niên hốt hữu nhất Tỳ Kheo Ni, thất kỳ danh, lai tự viễn phương, đầu Ôn vi Đàn Việt (晉大司馬桓溫、字元子、末年忽有一比邱尼、失其名、來自遠方、投溫爲檀越, Đại Tư Mã Hoàn Ôn nhà Tấn, tự là Nguyên Tử, cuối đời chợt có một Tỳ Kheo Ni, không rõ tên, từ phương xa đến, nhờ Hoàn Ôn làm thí chủ).” Hay trong Tề Thiền Lâm Tự Ni Tịnh Tú Hành Trạng (齊禪林寺尼凈秀行狀) của Thẩm Ước (沉約, 441-513) nhà Lương thời Nam Triều lại có đoạn: “Cập chí tựu giảng, nãi đắc thất thập Đàn Việt, thiết cúng quả, thực giai tinh (及至就講、乃得七十檀越、設供果、食皆精, đến khi thuyết giảng, có được bảy mươi thí chủ, dâng cúng trái cây, thức ăn đều tinh khiết).”