8. Quận Công Từ Điệp
Nguyên văn:
郡公祠牒
啟建普濟道場大齋壇 爲牒請事。兹據
大南國承天府... 祠主... 奉
皇太妃懿旨、建壇于郡公祠奉
佛修齋諷經追薦先靈爲冥陽祈福事、維日謹以金銀齋盤清酌庶品之儀、恭薦于
伏爲郡公...之靈。
世閱簪纓、庭傳詩禮、顯秩稠蒙異渥、豐儀久慰潛馨、奉皇情敦顧念之恩、仰慈旨篤追酬之孝、須憑覺道、永妥靈光。兹者夏天佳節、孟月良晨、壇開三晝之連霄、僧仗六和之淨侶、諷誦大乘三寶尊經...(如前)。今則齋筵肆設、牒札載伸、尚祈降鑒于靈祠、永沐楊枝之水、尤願高登于覺地、長參蓮座之花、慶裕後昆、道光前古。須至牒請者。
右牒請
郡公之靈收執。
Phiên âm:
QUẬN CÔNG TỪ ĐIỆP
Khải Kiến Phổ Tế Đạo Tràng Đại Trai Đàn Vị điệp thỉnh sự.
Tư cứ: Đại Nam Quốc … Từ chủ … phụng Hoàng Thái Phi ý chỉ, kiến đàn vu Quận Công Từ phụng Phật tu trai phúng kinh truy tiến tiên linh vị minh dương kỳ phước sự; duy nhật cẩn dĩ kim ngân trai bàn thanh chước thứ phẩm chi nghi, cung tiến vu:
Phục vị: Quận Công Chi Linh.
Thế duyệt trâm anh, đình truyền thi lễ; hiển trật trù mông dị ác, phong nghi cửu úy tiềm hinh; phụng Hoàng tình đôn cố niệm chi ân, ngưỡng từ chỉ đốc truy thù chi hiếu; tu bằng giác đạo, vĩnh thỏa linh quang. Tư giả Hạ thiên giai tiết, mạnh nguyệt lương thần; đàn khai tam trú chi liên tiêu, tăng trượng Lục Hòa1 chi tịnh lữ;2 phúng tụng Đại Thừa Tam Bảo Tôn Kinh … (như tiền). Kim tắc trai diên tứ thiết, điệp trác tải thân; thượng kỳ giáng giám vu linh từ, vĩnh mộc dương chi3 chi thủy; vưu nguyện cao đăng vu giác địa,4 trường tham liên tọa5 chi hoa; khánh dụ hậu côn, đạo quang tiền cổ. Tu chí điệp thỉnh giả.
Hữu Điệp Thỉnh
Quận Công chi linh thu chấp.
Dịch nghĩa:
ĐIỆP CÚNG TẠI TỪ ĐƯỜNG QUẬN CÔNG
Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước Vì điệp thỉnh.
Nay căn cứ: Việc chủ Từ Đường … tại phủ Thừa Thiên, nước Đại Nam, vâng ý chỉ Hoàng Thái Phi, lập đàn tại Từ Đường Quận Công, thờ Phật, ăn chay tụng kinh, dâng cúng chư tiên linh, vì âm dương cầu phước. Hôm nay kính lấy nghi thức vàng bạc, cỗ chay, rượu trong, phẩm vật mọn, dâng cúng lên:
Cúi vì hương linh Quận Công …
Dòng dõi trâm anh, nhà truyền thơ lễ; quan vị nhiều bao ân sủng, phong nghi an ủi thơm thầm; vâng lòng vua dốc trật tự luân thường, đội ý chỉ hết một lòng báo hiếu; nên nương nẻo giác, yên mãi hương linh. Hôm nay trời Hè tiết đẹp, đầu tháng giờ lành; đàn mở ba ngày suốt ba đêm; khói mây tốt lành, hương khắp mười phương các thế giới; trì tụng tôn kinh Tam Bảo Đại Thừa … (như trước). Nay tất cỗ chay dọn sẵn, điệp cúng dâng lên; mong cầu giáng xuống nơi từ đường, mãi thấm nhành dương nước tịnh; lại nguyện lên cao chốn cõi giác, luôn trông hoa báu tòa sen; vui khắp cháu con, đạo ngời vạn cổ. Kính dâng điệp thỉnh nầy.
Kính Điệp Thỉnh
Hương linh Quận Công … vâng giữ.
Chú thích:
- Lục Hòa (六和): còn gọi là Lục Úy Lao Pháp (六慰勞法), Lục Khả Hỷ Pháp (六可憘法), Lục Hòa Kính (六和敬); chỉ cho 6 loại hòa đồng ái kính, 6 pháp môn một hành giả Phật Giáo Đại Thừa cầu đạo Bồ Đề, tu Phạm hạnh cần phải kính trọng, yêu thương lẫn nhau; gồm: (1) Thân Hòa Kính (身和敬): chỉ cho thân nghiệp cùng lễ lạy, v.v., thường hòa kính nhau. (2) Khẩu Hòa Kính (口和敬): chỉ cho khẩu nghiệp cùng tán tụng, v.v., thường hòa kính nhau. (3) Ý Hòa Kính (意和敬): chỉ cho ý nghiệp cùng tín tâm, v.v., thường hòa kính nhau. (4) Giới Hòa Kính (戒和敬): chỉ sự hòa kính cùng giới pháp. (5) Kiến Hòa Kính (見和敬): chỉ cho sự hòa kính cùng kiến giải của trí tuệ bậc Thánh. (6) Lợi Hòa Kính (利和敬): chỉ cho sự hòa kính cùng lợi ích về y phục, thức ăn, v.v. Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 12 còn nêu ra 6 loại hòa kính khác như: (1) Thân Nghiệp Đồng (身業同); (2) Khẩu Nghiệp Đồng (口業同); (3) Ý Nghiệp Đồng (意業同); (4) Đồng Giới (同戒); (5) Đồng Thí (同施); (6) Đồng Kiến (同見). Bên cạnh đó, Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑, 卍 Tục Tạng KinhVol. 64, No. 1261) quyển 5 lại nêu ra Lục Hòa là: (1) Thân Hòa Cọng Trú (身和共住, thân hòa hợp cùng sống với nhau); (2) Khẩu Hòa Vô Tránh (口和無諍, miệng hòa hợp không tranh cãi nhau); (3) Ý Hòa Đồng Sự (意和同事, ý hòa hợp cùng nhau làm việc); (4) Giới Hòa Đồng Tu (戒和同修, giới hòa hợp cùng nhau tu tập); (5) Kiến Hòa Đồng Giải (見和同解, hiểu biết hòa hợp cùng nhau chia xẻ); (6) Lợi Hòa Đồng Quân (利和同均, lợi ích hòa hợp cùng nhau chia đều). Ngoài ra Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn (法界次第初門, Taishō Vol. 46, No. 1925) quyển Hạ cũng liệt kê 6 pháp hòa kính là: (1) Đồng Giới Hòa Kính (同戒和敬); (2) Đồng Kiến Hòa Kính (同見和敬); (3) Đồng Hạnh Hòa Kính (同行和敬); (4) Thân Từ Hòa Kính (身慈和敬); (5) Khẩu Từ Hòa Kính (口慈和敬); và (6) Ý Từ Hòa Kính (意慈和敬). Trong Hoa Nghiêm Cương Yếu (華嚴綱要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 8, No. 240) quyển 18 có đoạn: “Phục thứ tất năng xưng tán nhất thiết đại nguyện, thị cố năng linh Phật chủng bất đoạn, phân biệt diễn thuyết nhân duyên chi môn, thị cố năng linh Pháp chủng bất đoạn, thường cần tu tập Lục Hòa Kính Pháp, thị cố năng linh Tăng chủng bất đoạn (復次悉能稱讚一切大願、是故能令佛種不斷、分別演說因緣之門、是故能令法種不斷、常勤修習六和敬法、是故能令僧種不斷, tiếp theo tất có thể xưng tán hết thảy đại nguyện, cho nên có thể khiến cho hạt giống Phật không dứt đoạn; phân biệt diễn thuyết cửa nhân duyên, cho nên có thể khiến cho hạt giống Pháp không dứt đoạn; thường siêng năng tu tập Sáu Pháp Hòa Kính, cho nên có thể khiến cho hạt giống Tăng không dứt đoạn).” Hay trong Viên Giác Kinh Đạo Tràng Tu Chứng Nghi (圓覺經道塲修證儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1475) quyển 15, phần Chí Tâm Phát Nguyện (至心發願), cũng có đoạn: “Nguyện ngã thường đắc hiến tối hậu cúng, ư chúng tăng trung, tu Lục Hòa Kính, đắc tự tại lực, hưng long Tam Bảo (願我常得獻最後供、於眾僧中、修六和敬、得自在力、興隆三寶, nguyện cho con thường được dâng hiến món cúng dường cuối cùng, trong chúng tăng tu Sáu Pháp Hòa Kính, được năng lực tự tại, hưng thịnh Tam Bảo).”
- Tịnh lữ (淨侶): chỉ cho chư tăng thanh tịnh. Như trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 17, phần La Sơn Pháp Hải Tự Tu Tịnh Độ Sám Sớ (羅山法海寺修淨土懺疏), có đoạn: “Tư La Sơn Pháp Hải Tự nhĩ Hòa Thượng nhân, nãi kết chư tịnh lữ, đồng tu thử pháp, phổ vị Tứ Ân Tam Hữu, bố Tịnh Độ chi nhân, tác vãng sanh chi duyên (茲羅山法海寺爾和上人、乃結諸淨侶、同修此法、普爲四恩三有、布淨土之因、作往生之緣, nay Hòa Thượng ấy ở Chùa Pháp Hải, La Sơn, bèn kết chúng tăng thanh tịnh, cùng tu pháp nầy, khắp vì Bốn Ơn Ba Loại, rải Tịnh Độ giống nhân, gieo vãng sanh duyên lành).” Hay trong Lễ Niệm Di Đà Đạo Tràng Sám Pháp (禮念彌陀道塲懺法, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1467) quyển 2 cũng có đoạn: “Thử phương sanh duyên ký tạ, bỉ giới diệu cảnh tức hiện, tường vân hậu phủng, tịnh lữ tiền nghênh, Sát Na khoảnh tức đắc vãng sanh, Tăng Kỳ kiếp thường cư An Dưỡng (此方生緣旣謝、彼界妙境卽現、祥雲後捧、淨侶前迎、剎那頃卽得往生、僧祇劫常居安養, phương nầy sanh duyên đã tạ, cõi kia cảnh lạ hiện ra, mây lành nâng đón, tăng chúng xa nghinh, Sát Na khoảnh khắc được vãng sanh, vô lượng kiếp thường sống An Dưỡng).”
- Dương chi (s: danta-kāṣṭha, p: danta-kaṭṭha, danta-poṇa, 楊枝): âm dịch là Đạn Đa Gia Sắt Sá (憚哆家瑟詑), Thiền Đa Ni Sắt Sáp (禪多抳瑟插); còn gọi là xỉ mộc (齒木), tức là mảnh cây nhỏ dùng để mài răng cạo lưỡi cho sạch; là một trong 18 vật cần dùng cho vị Tỳ Kheo do Phật chế ra. Như trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳, Taishō Vol. 54, No. 2125) quyển 1, phần Bát Triêu Tước Xỉ Mộc (八朝嚼齒木), giải thích rõ rằng: “Mỗi nhật đán triêu tu tước xỉ mộc, giai xỉ, quát thiệt, vụ linh như pháp, quán thấu thanh tịnh, phương hành kính lễ (每日旦朝須嚼齒木、揩齒、刮舌、務令如法、盥漱清淨、方行敬禮, mỗi ngày vào sáng sớm nên nhai cây xỉa răng, chùi răng, cạo lưỡi, làm việc như pháp, rửa tay súc miệng sạch sẽ, mới hành kính lễ).” Tại Ấn Độ, các nước phía Tây, khi mời người thế tục, trước tặng cho cây xỉa răng và nước hương, v.v., để chúc cho người đó được sức khỏe, thể hiện ý thỉnh cầu. Ngay như cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát cũng dùng nhành dương chi và nước trong sạch, được gọi là Pháp Thỉnh Quán Âm (請觀音法) hay Pháp Dương Chi Tịnh Thủy (楊枝淨水法). Như trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 60, phần Thỉnh Quan Thế Âm Đại Thế Chí Bồ Tát Chú Pháp (請觀世音大勢至菩薩咒法), có câu: “Thỉnh thập phương Thất Phật Quan Âm Đại Thế Chí Bồ Tát đẳng, ngã kim dĩ cụ dương chi tịnh thủy, duy nguyện đại từ ai mẫn nhiếp thọ (請十方七佛觀音大勢至菩薩等、我今已具楊枝淨水、惟願大慈哀愍攝受, thỉnh mười phương bảy vị Phật, Quan Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát, v.v., con nay đã đầy đủ nhành dương nước sạch, xin nguyện từ bi thương xót nhiếp thọ).” Pháp Uyển Châu Lâm quyển 61 còn cho biết rằng Phật Đồ Trừng (佛圖澄, 232-348), cao tăng Thiên Trúc, là người có đức độ lớn, Thạch Lặc (石勒, 274-333)—vua nhà Hậu Triệu, nghe tiếng bèn cho mời vào cung nội. Nhân con nhà vua bị bệnh chết, Phật Đồ Trừng lấy nhà dương thấm nước rưới lên, người ấy sống lại. Cho nên, người ta thường dùng nhành dương liễu và nước trong sạch để làm thanh tịnh các đàn tràng cầu nguyện cầu an, cầu siêu, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, v.v. Trong Từ Bi Dược Sư Bảo Sám (慈悲藥師寶懺, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1484) quyển 1 có bài tán Dương Chi Tịnh Thủy như sau: “Dương chi tịnh thủy, biến sái tam thiên, tánh không Bát Đức lợi nhân thiên, phước tuệ quảng tăng diên, diệt tội trừ khiên, hỏa diệm hóa hồng liên (楊枝淨水、遍洒三千、性空八德利人天、福慧廣增延、滅罪除愆、火燄化紅蓮, nhành dương nước tịnh, rưới khắp ba ngàn, tánh không Tám Đức lợi người trời, phước tuệ rộng tăng thêm, diệt tội oan khiên, lửa rực hóa hồng sen).” Về loại cây xỉa răng, Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có nêu ra 4 loại có thể dùng làm cây xỉa răng là Bạch Dương (白楊), Thanh Dương (青楊), Xích Dương (赤楊) và Hoàng Dương (黃楊). Lại nữa, không chỉ riêng loại Dương Liễu mới có thể làm cây xỉa răng, mà tất cả các loại cây đều có thể dùng được. Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu còn giới thiệu bài kệ Thủ Dương Chi (取楊枝, Cầm Nhành Dương Liễu [Tăm Xỉa Răng]) là: “Thủ chấp dương chi, đương nguyện chúng sanh, giai đắc diệu pháp, cứu cánh thanh tịnh (手執楊枝、當願眾生、皆得妙法、究竟清淨, tay cầm nhành dương, nguyện cho chúng sanh, đều được pháp mầu, rốt ráo thanh tịnh)”; và bài Tước Dương Chi (嚼楊枝, Xỉa Răng): “Tước dương chi thời, đương nguyện chúng sanh, kỳ tâm điều tịnh, phệ chư phiền não (嚼楊枝時、當願眾生、其心調淨、噬諸煩惱, khi đang xỉa răng, nguyện cho chúng sanh, tâm được trong sạch, hết các phiền não).” Tỳ Ni Chỉ Trì Hội Tập (毗尼止持會集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 39, No. 709) quyển 16 còn cho biết một số nguyên tắc khi xỉa răng như: “Bất đắc tại Phật tháp hạ tước dương chi (不得在佛塔下嚼楊枝, không được xỉa răng dưới tháp Phật)”, “bất đắc hướng Phật tháp tước dương chi (不得向佛塔嚼楊枝, không được hướng về tháp Phật mà xỉa răng)”, “bất đắc Phật tháp tứ biên tước dương chi (不得佛塔四邊嚼楊枝, không được xỉa răng ở bốn phía của tháp Phật)”, v.v.
- Giác địa (覺地): có hai nghĩa. (1) Chỉ cho ý chí tu hành ngộ đạo. Như trong bài thơ Đề Linh Sơn Tự (題靈山寺) của Cố Huống (顧況, khoảng 725-814) nhà Đường có câu: “Giác địa bổn tùy thân, Linh Sơn trùng kết nhân (覺地本隨身、靈山重結因, cõi giác vốn tùy thân, Linh Sơn lại kết nhân).” (2) Cảnh giới giác ngộ, Phật địa. Như trong bài Phước Thiện Miếu Thiết Trai Môn Bảng (福善廟設齋門榜) của Hoàng Công Thiệu (黃公紹, ?-?) nhà Tống có câu: “Kim tắc thụ thắng phan ư giác địa, hạ tiên ngự ư hy đài (今則豎勝旛於覺地、下飆馭於熙臺, nay tất dựng phan lớn nơi cõi giác, hạ thần giá xuống đài thiêng).” Trong Viên Giác Kinh Cận Thích (圓覺經近釋, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 259) quyển 1 có đoạn: “Nhất thiết Như Lai giai dĩ thử Đại Quang Minh Tạng trang nghiêm thử thân trú trì thử độ, phi nhược chúng sanh dĩ Tạng Thức trang nghiêm thử thân trú trì thử độ dã; nhiên thử Đại Quang Minh Tạng nguyên phi tha vật, tức thị chúng sanh sở cụ vô cấu vô nhiễm thanh tịnh giác địa, chư Phật chứng chi danh Pháp Tánh Thân (一切如來皆以此大光明藏莊嚴此身住持此土、非若眾生以藏識莊嚴此身住持此土也、然此大光明藏元非他物、卽是眾生所具無垢無染清淨覺地、諸佛證之名法性身, hết thảy Như Lai đều lấy Đại Quang Minh Tạng nầy để trang nghiêm thân nầy và trú trì cõi nước nầy; không phải như chúng sanh lấy Tạng Thức để trang nghiêm thân nầy và trú trì cõi nước nầy; nhưng Đại Quang Minh Tạng nầy vốn chẳng phải là vật khác, tức là cảnh giới giác ngộ thanh tịnh, không nhớp không nhiễm vốn đầy đủ của chúng sanh; chư Phật chứng được thì gọi là Pháp Tánh Thân).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 26, phần Lô Sơn Vạn Thọ Tự Trang Nghiêm Phật Tượng Ký (廬山萬壽寺莊嚴佛像記), cũng có đoạn: “Hoặc nhất bổng nhất hát chi gian, sử nhân đốn tận phàm tình, lập đăng giác địa, tức sở vị nhất hô nhi tỉnh đại mộng (或一棒一喝之閒、使人頓盡凡情、立登覺地、卽所謂一呼而醒大夢, hoặc trong một gậy đánh một tiếng hét, khiến người đốn ngộ phàm tình, liền lên cõi giác, tức gọi là một tiếng gọi mà tỉnh cơn đại mộng).”
- Liên tọa (蓮座): tòa sen. Như trong bài thơ Quán Phật Tích Tự (觀佛迹寺) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường có câu: “Liên tọa thần dung nghiễm, tùng nhai Thánh tích dư (蓮座神容儼、松崖聖迹餘, tòa sen dung tướng uy nghiêm, cây tùng vách núi cõi Thiền còn đây).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 2, phần Hỏa Hậu Hoàn Nguyện (火後還愿), có đoạn: “Phục nguyện nguy nguy liên tọa hiện nguyệt minh thủy thượng chi quang, vĩnh vĩnh bồng cư tuyệt yên diệt hôi phi chi huyễn (伏願巍巍蓮座現月明水上之光。永永蓬居絕煙滅灰飛之幻, cúi mong nguy nga tòa sen hiện trăng sáng trên nước hào quang, mãi mãi an cư dứt khói tuyệt tro bay giả huyễn).”