7. Quận Công Từ Khai Kinh Sớ
Nguyên văn:
郡公祠開經疏
伏以
金相巍巍、湧出蓮花之寶座、琅函簡簡、演開貝葉之靈文、俯瀝丹忱、仰干玄鑒。拜疏爲
大南國承天府...祠主...奉
皇太妃懿旨、建壇于郡公祠奉
佛修齋諷經追薦先靈爲冥陽祈福事、惟日焚一篆之眞香、禮三身之寶相、願舒蓮眼、俯鑒葵情。
伏爲郡公徽號之靈。
木之有根枝、芽甲栽培、質稟於乾坤、人之有身體、髪膚長養、德資於尊祖、想幾代積仁累德、永垂椒衍、瓜綿萃一堂、嗣胤門眉、蔭裕蘭芳桂馥、閥閱簪纓渾如在、生方之路未明、絲毫溫清愧多虧、山海之恩未報、顧願追酬、昊德應須、仰達
鴻庥。兹者序惟天貺、節屬夏薰、晴日催榴火呈祥、南風引荷香獻瑞、莊嚴海會、壇開三晝之連霄、瑞靄雲烟、香滿十方之世界、諷誦大乘三寶經...(如前)、繼以開闢、拔土、放生、賑濟、頂禮鴻名寶號、集此良因、祈增福果。今則上供開啟疏章、和南拜奏。
南無釋迦佛...(如前)
伏願、祥光遠燭、破迷途而極樂同登、寶筏弘施、濟苦海而菩提速證、永受如來之記、長依般若之郷、寔賴諸佛扶持之大力也。謹疏。
啟定五年歲次庚申四月十日弟子沙門清智上疏。
Phiên âm:
QUẬN CÔNG TỪ KHAI KINH SỚ
Phục dĩ:
Kim tướng1 nguy nguy, dũng xuất Liên Hoa chi bảo tọa; lang hàm2 giản giản, diễn khai bối diệp3chi linh văn;4 phủ lịch đơn thầm, ngưỡng can huyền giám.
Bái sớ vị: Đại Nam Quốc Thừa Thiên Phủ … Từ chủ … phụng Hoàng Thái Phi ý chỉ, kiến đàn vu Quận Công Từ phụng Phật tu trai phúng kinh truy tiến tiên linh vị minh dương kỳ phước sự; duy nhật phần nhất triện chi chơn hương, lễ Tam Thân chi bảo tướng; nguyện thư Liên Nhãn,5 phủ giám quỳ tình.
Phục vị: Quận Công Huy Hiệu Chi Linh.
Thiết niệm: Mộc chi hữu căn chi, nha giáp tài bồi chất bẩm ư càn khôn; nhân chi hữu thân thể, phát phu trưởng dưỡng đức tư ư tông tổ; tưởng kỉ đại tích nhân lụy đức, vĩnh thùy tiêu diễn, qua miên tụy nhất đường, từ dận6 môn mi,7 ấm dụ lan phương quế phức; phiệt duyệt trâm anh hồn như tại, sanh phương chi lộ vị minh, ty hào ôn thanh quý đa khuy, sơn hải chi ân vị báo; cố nguyện truy thù, hạo đức ưng tu, ngưỡng đạt hồng hưu. Tư giả tự duy thiên huống, tiết thuộc Hạ huân, tình nhật thôi lựu hỏa trình tường, nam phong dẫn hà hương hiến thụy; trang nghiêm hải hội, đàn khai tam trú chi liên tiêu; thụy ải vân yên, hương mãn thập phương chi thế giới; phúng tụng Đại Thừa Tam Bảo Kinh … (như tiền), kế dĩ Khai Tịch, Bạt Độ, Phóng Sanh, Chẩn Tế; đảnh lễ hồng danh bảo hiệu, tập thử lương nhân, kỳ tăng phước quả. Kim tắc thượng cúng khai khải sớ chương, hòa nam bái tấu:
Nam Mô Thích Ca Phật … (như tiền)
Phục nguyện: Tường quang viễn chúc, phá mê đồ nhi Cực Lạc đồng đăng; bảo phiệt hoằng thi, tế khổ hải nhi Bồ Đề tốc chứng; vĩnh thọ Như Lai chi ký, trường y Bát Nhã chi hương. Thật lại chư Phật phò trì chi đại lực dã. Cẩn sớ.
Khải Định ngũ niên, tuế thứ Canh Thân tứ nguyệt thập nhật. Đệ tử Sa Môn Thanh Trí8 thượng sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ KHAI KINH CÚNG TẠI TỪ ĐƯỜNG QUẬN CÔNG
Cúi nghĩ:
Tướng sáng nguy nga, trào tuôn hoa sen ấy tòa báu; rương kinh đồ sộ, mở bày lá bối ấy linh văn; cúi tấc lòng thành, ngưỡng mong chứng giám.
Sớ tâu: Việc chủ Từ Đường … tại Phủ Thừa Thiên, nước Đại Nam, vâng ý chỉ Hoàng Thái Phi, lập đàn tại Từ Đường Quận Công, thờ Phật, ăn chay tụng kinh, dâng cúng chư tiên linh, vì âm dương cầu phước. Hôm nay đốt một nén ấy chơn hương, lạy Ba Thân muôn tướng báu; nguyện bày Liên Nhãn, chứng giám lòng thành.
Cúi vì hương linh Quận Công huy hiệu …
Nép nghĩ: Cây gốc rễ vốn có, mầm non đắp bồi, chất thuộc nơi càn khôn; người vốn có thân thể, tóc da nuôi dưỡng, đức nhờ vào tổ tông; nhớ bao đời tích nhân chứa đức, mãi luôn nối tiếp; con cháu khắp một nhà, kế thừa môn phong, phúc rợp lan thơm quế ngát, công tích trâm anh luôn còn đó, thác sanh nẻo ấy vẫn mịt mờ; cỏn con tấc lòng thẹn thiếu sót, trời biển ơn sâu chưa báo, những nguyện đáp đền, đức cả nương theo, ngưỡng thấu chở che. Hôm nay trời ban đúng dịp, tiết thuộc Hè thơm; trời tạnh giục hoa Lựu điềm lành, gió nam mang hương sen hiến cúng; trang nghiêm pháp hội, đàn bày suốt ba ngày ba đêm, khói mây tốt lành, hương khắp mười phương các thế giới; trì tụng tôn kinh Tam Bảo Đại Thừa … (như trước); tiếp theo lập một đàn Khai Tịch, một đàn Lục Cúng, một đàn Chẩn Tế; đảnh lễ hồng danh hiệu Phật, lấy nhân tốt nầy, để cầu quả phước. Nay tất dâng cúng khai mở sớ chương, kính thành tâu lạy:
Kính lạy đức Phật Thích Ca … (như trước)
Cúi mong: Hào quang xa tỏ, phá đường mê mà Cực Lạc cùng lên; bè báu nương theo, cứu biển khổ mà Bồ Đề sớm chứng; mãi được Như Lai thọ ký, luôn nương Bát Nhã quê hương. Ngưỡng lạy chư Phật phò giúp năng lực lớn. Kính dâng sớ.
Ngày mồng 10 tháng tư năm Canh Thân (nhằm ngày 27 tháng 5 năm 1920), niên hiệu Khải Định thứ 5. Đệ tử Sa Môn Thanh Trí kính thành dâng sớ.
Chú thích:
- Kim tướng (金相): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho hình thức hoàn mỹ. Như trong bài Hà Nam Phủ Tham Quân Quách Quân Thần Đạo Bi Minh (河南府參軍郭君神道碑銘) của Nhan Chơn Khanh (顏眞卿, 709-785) nhà Đường có câu: “Gia truyền ngọc thọ, nhân vịnh kim tướng (家傳玉樹、人詠金相, nhà truyền cây ngọc, người vịnh tướng đẹp).” (2) Chỉ cho các tượng Phật, Bồ Tát dát vàng. Như trong bài thơ Tịnh Lạc Cung (淨樂宮) của Vương Thế Trinh (王世貞, 1526-1590) nhà Minh có câu: “Mạt pháp khai kim tướng, chơn vương đắc bảo phù (末法開金相、眞王得寶符, mạt pháp bày vàng tướng, vua hiền được báu bùa).” Trong Ngũ Phương Tiện Niệm Phật Môn (五方便念佛門, Taishō Vol. 47, No. 1962) có đoạn: “Niệm Phật chi thời đế quán Như Lai ngọc hào kim tướng, ngưng nhiên tịch tĩnh liễu lượng động triệt, danh Ngưng Tâm Thiền (念佛之時諦觀如來玉毫金相、凝然寂靜了亮洞徹,名凝心禪, khi niệm Phật, quán rõ tướng vàng lông ngọc của Như Lai, lắng đọng tĩnh lặng, sáng soi thấu triệt, đó gọi là Thiền Lắng Tâm).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 23, phần Đàm Châu Báo Từ Khai Phước Tấn Anh Thiền Sư (潭州報慈開福進英禪師), lại có đoạn: “Kim triêu tứ nguyệt bát, ngã Phật giáng sanh thần, đầu đầu kim tướng hiện, xứ xứ pháp tràng tân, bất tẩy thể, bất tẩy trần, quán mộc Như Lai diệu sắc thân, thùy tín nhị thiên niên hậu sự, Ưu Đàm trùng trưởng nhất chi xuân (今朝四月八、我佛降生辰、頭頭金相現、處處法幢新、不洗體、不洗塵、灌沐如來妙色身、誰信二千年後事、優曇重長一枝春, sáng nay mồng tám tháng tư, ngày Phật ta giáng trần, đầu đầu tướng vàng hiện, chốn chốn cờ pháp tung, chẳng rửa thân, chẳng rửa bụi, tắm rửa Như Lai sắc mầu thân, ai tin hai ngàn năm sau nữa, Ưu Đàm lớn mạnh một cành xuân).”
- Lang hàm (瑯函、琅函): có 2 nghĩa khác nhau. (1) Từ mỹ xưng của hòm thư, hộp thư. Như trong bài thơ Lý Thị Tiểu Trì Đình (李氏小池亭) của Vi Trang (韋莊, 836-910) nhà Tiền Thục có câu: “Gia tàng hà sở bảo, thanh vận mãn lang hàm (家藏何所寶、清韻滿瑯函, nhà chứa vật báu gì, văn chương khắp hòm thư).” (2) Chỉ cho thư tịch của Đạo Giáo. Như trong tác phẩm Nghệ Lâm Phạt Sơn (藝林伐山), phần Tiên Kinh (仙經) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có giải thích rằng: “Quỳnh Văn, Tảo Cấp, Lâm Triện, Lang Hàm, giai chỉ Đạo thư dã (瓊文、藻笈、琳篆、瑯函、皆指道書也, Quỳnh Văn, Tảo Cấp, Lâm Triện, Lang Hàm đều chỉ cho các thư tịch của Đạo Giáo).” Trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474), phần Tùy Châu Đại Hồng Sơn Toại Thiền Sư Lễ Hoa Nghiêm Kinh Văn (隨州大洪山遂禪師禮華嚴經文), có đoạn: “Nam Mô Tỳ Lô Giáo Chủ, Hoa Tạng từ tôn, diễn bảo kệ chi kinh văn, bố lang hàm chi ngọc trục, trần trần hỗn nhập, sát sát viên dung (南無毗盧敎主、華藏慈尊、演寶偈之經文、布琅函之玉軸、塵塵混入、剎剎圓融, kính lạy đức Giáo Chủ Tỳ Lô, đấng từ tôn Hoa Tạng, tuyên diễn kinh văn kệ báu, bày khắp cuộn ngọc hòm thư, nơi nơi thâu nhập, chốn chốn viên dung).” Hay trong Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đơn Hà Thuần Thiền Sư Tụng Cổ Hư Đường Tập (林泉老人評唱丹霞淳禪師頌古虛堂集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1304) quyển 5 lại có đoạn: “Ngọc trục lang hàm nghĩ phá đề, Phật ma ninh miễn lập giai thê, chỉ đề hoàng diệp tằng vi dụ, hà tất khu khu thủ ngộ mê (玉軸琅函擬破題、佛魔寧免立階梯、止啼黃葉曾爲喻、何必區區守悟迷, cuộn ngọc hòm thư nghĩ phá đề, Phật ma sao khỏi bậc thứ khoe, dừng thốt lá vàng làm thí dụ, đâu cần khư khư giữ ngộ mê).”
- Bối Diệp (s: pattra, p: patta, 貝葉): Lá Bối, âm dịch là Bối Đa La (貝多羅), gọi tắt là Bối Diệp, Bối Đa (貝多), là lá của loại cây Đa La (多羅, Corypha umbraculifera). Lá của nó dài và rộng, khắc chữ lên lá bằng bút sắt thì rất thích hợp. Trước khi phát minh ra giấy, dưới thời cổ đại Ấn Độ, người ta dùng loại lá cây nầy thay thế giấy để viết các văn thư, kinh điển và bảo tồn có thể kéo dài đến cả trăm năm. Từ đó, Bối Diệp chỉ cho quyển kinh. Kinh điển được viết trên Lá Bối xuất hiện đầu tiên tại Ấn Độ, sau khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, các thư tịch nầy cũng được lưu truyền theo. Hiện tại, ở các tự viện thuộc tỉnh Vân Nam cũng như Tây Tạng vẫn còn bảo trì một số lượng rất lớn loại kinh văn Lá Bối nầy. Như trong bài Sơn Cư (山居) của Tử Bá Lão Nhân Tập (紫柏老人集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 26 có đoạn: “Bạch nhật lai tham phục hổ Thiền, nạp y thùy cọng nhiễm hương yên, phong trần hữu lộ thông tâm địa, thủy nguyệt vô nhân vấn tánh thiên, không tưởng huyền am phiên bối diệp, diêu tri lôi vũ hộ kim điền, lãnh lãnh tùng hạ thính hàn lãng, vạn kiếp tình căn nhất sái nhiên(白日來參伏虎禪、衲衣誰共染香煙、風塵有路通心地、水月無人問性天、空想玄菴翻貝葉、遙知雷雨護金田、冷冷松下聽寒浪、萬劫情根一洒然, cọp quỳ ban ngày tham vấn Thiền, rách y ai nhuộm khói hương thêm, phong trần có nẻo thông tâm địa, trăng nước không người hỏi tánh thiên, không tưởng am huyền phiên kinh điển, xa hay mưa sấm giúp ruộng vàng, buốt giá cội tùng nghe sóng lạnh, muôn kiếp tình căn rửa sạch liền).” Hay như trong Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1391) cũng có câu: “Hồ tăng phiên bối diệp, Vương Lão tước sanh khương (胡僧翻貝葉、王老嚼生薑, Hồ tăng dịch kinh điển, Vương Lão nhấm gừng non).”
- Linh văn (靈文): có 2 nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho kinh văn của tôn giáo. Như tác phẩm Nghệ Văn Loại Tụ (藝文類聚) quyển 77 có dẫn bài Nam Cung Thượng Quật Đắc Từ Giác Tự Chung Khải (東宮上掘得慈覺寺鍾啟) của Giản Văn Đế (簡文帝, tại vị 549-551) nhà Lương thời Nam Triều, trong đó có câu: “Khải di chung ư thù lí, ký linh văn ư phước địa (啟彝鐘於殊裡、記靈文於福地, mở chuông thiêng nơi sâu thẳm, ghi linh văn chốn đất phước).” (2) Chỉ cho những thư tịch hay văn tự trân quý nhưng hiếm có được truyền lại từ thời xa xưa. Như trong bài Kỷ Hợi Tạp Thi (己亥雜詩) của Cung Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh có đoạn: “Cổ nhân chế tự quỷ dạ khấp, hậu nhân thức tự bách ưu tập, ngã bất úy quỷ phục bất ưu, linh văn dạ bổ thu đăng bích (古人製字鬼夜泣、後人識字百憂集、我不畏鬼復不憂、靈文夜補秋燈碧, người xưa chế chữ quỷ đêm khóc, người sau biết chữ ưu buồn chất, ta chẳng sợ quỷ lại chẳng buồn, linh văn đêm thu đèn sáng tỏ).” Trong Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Thích Yếu (大乘止觀法門釋要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 905) có câu: “Mục bất đỗ Tam Tạng chi linh văn, nhĩ bất văn Ngũ Tông chi huyền chỉ (目不睹三藏之靈文、耳不聞五宗之玄旨, mắt chẳng thấy Ba Tạng ấy linh văn, tai không nghe Năm Tông ấy huyền chỉ).” Hay trong Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Ký Linh Nguyên Giảng Chủ (寄靈源講主), lại có đoạn: “Lão lai vạn sự dĩ đô vong, nhật nguyệt thăng trầm nhất nhậm mang, khiết phạn trước y tùy phận quá, liễu vô tâm niệm tưởng Tây phương, thất trục linh văn nhất triện yên, nhàn phòng tiêu tận thế gian duyên, dạ thâm đăng ám thử trùng xuất, phiên lạc trà phiêu ngọa sáp tiền (老來萬事已都忘、日月昇沉一任忙、喫飯著衣隨分過、了無心念想西方、七軸靈文一篆煙、閑房消盡世間緣、夜深燈暗鼠虫出、翻落茶瓢臥榻前, già đến muôn điều thảy hết quên, ngày tháng thăng trầm bận liên miên, mặc áo ăn cơm theo bổn phận, ngộ vô tâm niệm nhớ Tây phương, bảy cuộn linh văn khói tỏa trên, trong phòng rũ sạch thế gian duyên, đêm về đèn tối chuột sâu hiện, một chén trà thơm trước giường Thiền).”
- Liên Nhãn (蓮眼): mắt hoa sen, chỉ con mắt của chư Phật, Bồ Tát, một trong 32 tướng tốt của đức Phật, tức là mắt trong xanh (s: abhinīla-netta, 眞青眼) như hoa sen xanh (s: utpala, p: uppala, 青蓮, âm dịch là Ưu Bát La [優鉢羅], thanh liên). Các ngài thường có tâm từ bi, nhu hòa, lắng trong, thanh tịnh, nên con mắt của các ngài như hoa sen xanh. Vì vậy từ nầy thường dùng để chỉ cho Phật nhãn hay bản thân Đức Phật. Trong Phẩm Phật Quốc (佛國品) của Duy Ma Kinh (Vimalakīrti-nideśa, 維摩經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển 1 có diễn tả về con mắt của chư Phật, Bồ Tát như sau: “Mục tịnh tu quảng như thanh liên, tâm tịnh dĩ độ chư Thiền định, cửu tích tịnh nghiệp xưng vô lượng, đạo chúng dĩ tịch cố khể thủ, kí kiến Đại Thánh dĩ thần biến, phổ hiện thập phương vô lượng quốc độ (目淨脩廣如青蓮、心淨已度諸禪定、久積淨業稱無量、導眾以寂故稽首、旣見大聖以神變、普現十方無量國土, mắt sạch dài rộng như hoa sen xanh, tâm sạch chứng khắp các Thiền định, tích tập lâu vô lượng các tịnh nghiệp, dẫn dắt mọi loài giải thoát nên con cúi lạy, đã thấy Đại Thánh dùng thần biến, hiện khắp mười phương vô lượng cõi nước).” Trong Tánh Linh Tập (性靈集) quyển 8, Chiều Đề Tự Đát Sấn Văn (招提寺噠嚫文) có câu: “Nhĩ nãi vạn đức khai từ bi chi liên nhãn, nhất xa huy trí tuệ chi đao nhận (爾乃萬德開慈悲之蓮眼、一車揮智慧之刀刃, Người lấy muôn đức mở mắt sen từ bi, một xe rung lưỡi đao trí tuệ).” Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 293) quyển 25 lại có câu: “Phật khai quảng đại thanh liên nhãn, diệu tướng trang nghiêm công đức thân, nhân thiên cọng tán bất năng lường, thí nhược vạn lưu quy đại hải (佛開廣大青蓮眼、妙相莊嚴功德身、人天共讚不能量、譬若萬流歸大海, Phật mở mắt sen xanh rộng lớn, tướng mầu trang nghiêm công đức thân, trời người xưng tán không thể lường, giống như muôn dòng về biển cả).” Hay trong Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經, Taishō Vol. 16, No. 672) quyển 7 cũng có câu: “Thế gian đọa nhị biên, chư kiến sở mê hoặc, duy nguyện thanh liên nhãn, thuyết chư địa thứ đệ (世間墮二邊、諸見所迷惑、惟願青蓮眼、說諸地次第, thế gian rơi hai bên, chỗ thấy bị mê hoặc, xin nguyện đấng mắt sen, nói cảnh giới giải thoát).”
- Từ dận (嗣胤): con cháu đời sau. Như trong Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) quyển 95 có câu: “Khinh khí quốc bổn, bất cố từ dận, vong tổ tuyệt tông, đắc tội tông xã (輕棄國本、不顧嗣胤、忘祖絕宗、得罪宗社, từ bỏ gốc nước, chẳng đoái cháu con, quên tổ tuyệt tông, có tội giống nòi).” Hay trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục (開元釋敎錄, Taishō Vol. 55, No. 2154) quyển 6 cũng có câu: “Kim Ô Trường Phạm Diễn vương đẳng tinh kỳ hậu dã, từ dận tương thừa vu kim bất tuyệt (今烏萇梵衍王等幷其後也、嗣胤相承于今不絕, nay vua Phạm Diễn của nước Ô Trường đều là hậu duệ của vị ấy, con cháu kế thừa đến nay không dứt tuyệt).”
- Môn mi (門楣): cái xà ngang gác trên cửa; cho nên cửa to hay nhỏ nói lên sự vinh hiển, giàu sang, cao quý, bề thế của nhà đó. Từ đó, môn mi là từ dùng để đề cao địa vị xã hội của gia đình, môn phong của gia tộc. Trong Phong Tục Nghị (風俗議) của Tống Ứng Tinh (宋應星, 1587-1666) nhà Minh có câu: “Vi sĩ giả, nhật tư cư quan thanh yếu, nhi quyến mẫu thứ nhân, nhật đốc kỳ trĩ ngoan tử đệ Nho quan Nho phục, mộng tưởng khoa đệ, cải hoán môn mi (爲士者、日思居官清要、而畎畝庶人、日督其稚頑子弟儒冠儒服、夢想科第、改換門楣, là kẻ sĩ, ngày thường nghĩ đến việc làm quan trong sạch, lo cấp ruộng đất cho muôn dân, hằng ngày đốc thúc lớp con em khờ dại để biết mũ quan áo quan, mơ tưởng thi đỗ để cải đổi môn phong).”
Có thể là Hòa Thượng Thanh Trí, đồng hàng huynh đệ với Hòa Thượng Huệ Pháp Chùa Thiên Hưng. Trong bộ Hàm Long Sơn Chí (含龍山志, ghi năm Kỷ Hợi [1899, Thành Thái 11]) quyển 1, phần Từ Hiếu Tự Yết Ma Hòa Thượng Pháp Từ (慈孝寺羯磨和尚法嗣, pháp từ của Hòa Thượng Yết Ma [tức Ngài Hải Thiệu Cương Kỷ] Chùa Từ Hiếu), có đoạn ghi rõ rằng như sau: “Phó Thanh Trí tự Hải Luận Huệ Giác Đại Sư kệ viết: ‘Tầm đắc chủ nhân ông, thỉ tri bổn lai đồng, nhất chân giai thị Phật, kế thế phụng tổ tông’ (付清智字海論慧覺大師偈曰、尋得主人翁、始知本來仝、一眞皆是佛、繼世奉祖尊, Trao cho Đại Sư Huệ Giác tự Hải Luận Thanh Trí kệ rằng: ‘Tìm được chủ nhân ông, mới biết xưa nay cùng, nhất chân đều là Phật, kế thế thờ tổ tông’).” Như vậy, Hòa Thượng là Đại Sư Huệ Giác, tự Hải Luận, pháp hiệu Thanh Trí. Nếu xét về thứ tự, Ngài là đệ tử thứ 27 của Ngài Hải Thiệu Cương Kỷ. Trước Ngài có các vị (1) Thanh Phước Chánh Lương (清福正良); (2) Thanh Quang Huệ Đăng (清光慧燈); (3) Thanh Mỹ Dụ Côn (清美裕昆); (4) Thanh Đức Huệ Nghiêm (清德慧嚴); (5) Thanh Lợi Hiền Lương (清利賢良); (6) Thanh Xán Huệ Khánh (清燦慧慶); (7) Thanh Hy Nguyên Cát (清熙元吉); (8) Thanh Chơn Viên Giác (清眞圓覺); (9) Thanh Hợp Từ Vân (清合慈雲); (10) Thanh Trường Minh Chí (清長銘鋕); (11) Thanh Minh Đức Nhuận (清明德潤); (12) Thanh Bạch Châu Lâm (清白珠林); (13) Thanh Tường Huệ Chiếu (清祥慧炤); (14) Thanh Thái (清泰), tự Chánh Sắc (正色), Huệ Minh (慧明); (15) Thanh Trừng (清澄), tự Tự Toản (緒纂), Huệ Đạt (慧達); (16) Thanh Giáo (清敎), tự Từ Hàng (慈航), Huệ Quang (慧光); (17) Thanh Kỳ (清淇) tự Duy Trì (維持), Huệ Khai (慧開); (18) Thanh Tú (清秀), tự Phong Nhiêu (豐饒), Huệ Pháp (慧法); (19) Thanh Thiệm (清贍), tự Trực Chất (直質), Huệ Nhật (慧日); (20) Thanh Tánh (清性), tự Lý Thiệm (理贍), Huệ Điểm (慧點); (21) Thanh Bổn (清本), tự Long Thi (隆詩), Huệ Tuấn (慧峻); (22) Thanh Lý (清理), tự Chánh Tâm (正心), Huệ Nguyên (慧源); (23) Thanh Nghiệm (清騐), tự Duy Cần (維勤), Huệ Lực (慧力); (24) Thanh Phước (清福), tự Vĩnh Gia (永嘉), Huệ Khai (慧開); (25) Thanh Phước (清福), tự Hưng Long (興隆), Huệ Thành (慧誠); và (26) Thanh Kiệm (清儉), tự Huy Tuần (輝珣), Huệ Thông (慧通). Sau Ngài có các vị khác như Thanh Bình (清平), tự Chánh Chất (正質), Huệ Linh (慧靈); Thanh Nguyên (清源), tự Phổ Hiệp (溥洽), Huệ Sanh (慧生), v.v. Căn cứ vào bản Hộ Giới Điệp cấp cho Hòa Thượng Giác Tiên tại Giới Đàn Chùa Phước Lâm, Hội An, ghi ngày mồng 8 tháng 3 năm Canh Tuất (1910), đương thời Đại Sư Huệ Giác là Đệ Nhị Tôn Chứng của giới đàn nầy.