35. Quận Công Từ Tiết Thứ Bảng
Nguyên văn:
郡公祠節次榜
啟建普度道場大齋壇 爲揭知事。兹據
大南國承天府富祿縣安居總忠虔邑、現住香水縣居正總楊品社、主祠侍讀學士楊光略奉皇太妃懿旨建壇于郡公祠奉
佛修齋諷經追薦先靈爲陽冥祈福事、維日虔仗禪和、恭臨祠宇、謹參竺典、肇啟花壇、本壇沙門清智遵命官之傳旨、按科範以宣行、開三晝夜之齋儀、定十二辰之節次、弘慈悲于覺地、無私惠雨慈雲、延厚祉于齋家、永惹清風和氣、仰憑
佛力、俯賜鴻庥、俾尊宮而寶婺星輝、壽年延永、保命座而瑤池月朗、福果團圓、更冀齋事以周隆、尤願道塲之吉慶、所有節次事儀、恭陳于後。計
十五日、未牌興作開大鐘鼓、申牌開壇結界禮、酉戌亥牌發奏禮。十六日、子牌揚旛禮、寅牌開經禮、辰牌題金位請金靈宣牒請。兹恭揭。右榜通知
歲次...
秉釋迦...
Phiên âm:
QUẬN CÔNG TỪ TIẾT THỨ BẢNG
Khải Kiến Phổ Độ Đạo Tràng Đại Trai Đàn Vị yết tri sự.
Tư cứ: Đại Nam Quốc Thừa Thiên Phủ, Phú Lộc Huyện, An Cư Tổng, Trung Kiền Ấp; hiện trú Hương Thủy Huyện, Cư Chánh Tổng, Dương Phẩm Xã; chủ từ Thị Độc1 Học Sĩ2 Dương Quang Lược3 phụng Hoàng Thái Phi ý chỉ, kiến đàn vu Quận Công Từ phụng Phật tu trai phúng kinh truy tiến tiên linh vị dương minh kỳ phước sự; duy nhật kiền trượng Thiền hòa, cung lâm từ vũ; cẩn tham trúc điển, triệu khải hoa đàn; bổn đàn Sa Môn Thanh Trí, tuân mệnh quan chi truyền chỉ; án khoa phạm dĩ tuyên hành, khai tam trú dạ chi trai nghi, định Thập Nhị Thần4 chi tiết thứ; hoằng từ bi vu giác địa, vô tư huệ vũ từ vân, diên hậu chỉ vu trai gia; vĩnh nhạ thanh phong hòa khí, ngưỡng bằng Phật lực, phủ tứ hồng hưu; tỷ tôn cung nhi bảo Vụ5 tinh huy, thọ niên diên vĩnh; bảo mạng tòa nhi Dao Trì6 nguyệt lãng, phước quả đoàn viên; cánh kí trai sự dĩ châu long, vưu nguyện đạo tràng chi cát khánh; sở hữu tiết thứ sự nghi, cung trần vu hậu. Kế:
Thập ngũ nhật: Mùi bài Hưng Tác Khai Đại Chung Cổ, Thân bài Khai Đàn Kết Giới Lễ, Dậu Tuất Hợi bài Phát Tấu7 Lễ.
Thập lục nhật: Tý bài Dương Phan Lễ, Dần bài Khai Kinh Lễ, Thìn bài Đề Kim Vị, Thỉnh Kim Linh, Tuyên Điệp Thỉnh … Tư cung yết.
Hữu Bảng Thông Tri
Tuế thứ …
Bỉnh Thích Ca …
Dịch nghĩa:
BẢNG GHI TRÌNH TỰ NGHI LỄ
TẠI TỪ ĐƯỜNG QUẬN CÔNG
Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Độ Khắp Vì việc niêm yết thông báo.
Nay căn cứ: việc chủ Từ Đường quan Thị Độc Học Sĩ Dương Quang Lược, nguyên quán ấp Trung Kiền, tổng An Cư, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên, nước Đại Nam; hiện trú tại xã Dương Phẩm, tổng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, vâng sắc chỉ Hoàng Thái Phi lập đàn tại Từ Đường Quận Công, thờ Phật, ăn chay tụng kinh hiến cúng tiên linh vì cầu phước cho âm dương. Hôm nay nương vào chúng tăng, quang lâm từ vũ; kính tham kinh Phật, bày mở đàn tràng; bổn đàn Sa Môn Thanh Trí, vâng mạng quan ấy truyền chỉ, chiếu khoa phạm mà thi hành; mở ba ngày đêm ấy nghi chay, định mười hai thời ấy trình tự; ban từ bi nơi cõi giác, vô tư mưa tuệ mây từ; tăng phước đức cho trai gia, mãi thấm gió trong hòa khí; ngưỡng mong lực Phật ban bố hồng ân; giúp tôn cung sao Vụ Nữ sáng soi, thọ lâu dài mãi; giữ mạng vị mà Dao Trì trăng tỏ, quả phước sum vầy; lại cầu trai sự được vẹn toàn, cúi mong đạo tràng luôn tốt đẹp; vốn có trình tự lễ nghi, kính ghi sau đây, tính hết thảy:
Ngày 15: Giờ Mùi (1-3 giờ chiều), Lễ Hưng Tác, khai chuông trống; giờ Thân (3-5 giờ chiều), Lễ Khai Đàn Kết Giới; giờ Dậu (5-7 giờ chiều), Tuất (7-9 giờ tối) và Hợi (9-11 giờ tối), Lễ Phát Tấu.
Ngày 16: Giờ Tý (11-1 giờ sáng), Lễ Dương Phan; giờ Dần (3-5 giờ sáng), Lễ Khai Kinh; giờ Thìn (7-9 giờ sáng), Lễ Đề Bài Vị Kim Linh, Thỉnh Kim Linh, Tuyên Đọc Điệp Thỉnh. Nay kính niêm yết. Kính Bảng Thông Báo.
… năm …
Thừa Thích Ca …
Chú thích:
- Thị Độc (侍讀): tên chức quan thời cổ đại, chuyên trách việc đọc sách, giảng học cho đế vương, Hoàng tử. Chức vụ nầy tương đồng với Thị Độc Học Sĩ (侍讀學士), nhưng cấp bậc thì thấp hơn; và đây cũng là từ giản xưng của Thị Độc Học Sĩ. Dưới thời nhà Tống có chức quan Hàn Lâm Thị Độc (翰林侍讀); đến thời nhà Minh và Thanh thì đặt thêm chức Hàn Lâm Viện Thị Độc (翰林院侍讀).
- Học Sĩ (學士): có mấy nghĩa. (1) Chỉ chung cho những người đọc sách bình thường. Như trong Bão Phác Tử (抱樸子), phần Sùng Giáo (崇敎), của Cát Hồng (葛洪, 284-363) nhà Tấn, có câu: “Tỉnh văn chương ký bất hiểu, đỗ học sĩ như thảo giới (省文章旣不曉、睹學士如草芥, xét văn chương đã không hiểu, xem người đọc sách như cỏ rác).” (2) Giống như học giả. Như trong tác phẩm Thiếu Thất Sơn Phòng Bút Tùng (少室山房筆叢), phần Hoa Dương Bác Nghị Hạ (華陽博議下), của Hồ Ứng Lân (胡應麟, 1551-1602) nhà Minh, có đoạn: “Giới Phủ, Nguyên Hối tự thị học sĩ, bất đắc dĩ sở trường một chi (介甫、元晦自是學士、不得以所長沒之, Giới Phủ [tức Vương An Thạch, 1021-1086], Nguyên Hối [tức Chu Hy, 1130-1200] tự là học giả, không được để cho sở trường mất đi).” (3) Tên một chức quan. Từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589) trở về sau, Học Sĩ được xem như là chức quan chuyên trách về soạn thuật văn học. Dưới thời nhà Đường (唐, 618-907), chức nầy được gọi là Hàn Lâm Học Sĩ (翰林學士), vì tiếp cận với Hoàng Đế, nên thỉnh thoảng có tham dự việc triều chính. Đến thời nhà Tống (宋, 960-1279), chức quan nầy được thiết định rõ ràng, chức quyền và địa vị cũng tương đồng với thời nhà Đường. Sang thời nhà Minh (明, 1368-1662) thì cho thiết lập các chức như Hàn Lâm Viện Học Sĩ (翰林院學士), Hàn Lâm Viện Thị Độc (翰林院侍讀), Thị Giảng Học Sĩ (侍講學士). Đến thời nhà Thanh (清, 1616-1911) thì đổi Hàn Lâm Viện Học Sĩ thành Chưởng Viện Học Sĩ (掌院學士). Trong Lịch Đại Tam Bảo Ký (歷代三寶紀, Taishō Vol. 49, No. 2034) quyển 1 có đoạn: “Khai Hoàng thập thất niên Phiên Kinh Học Sĩ thần Phí Trường Phòng (開皇十七年翻經學士臣費長房, năm Khai Hoàng 17 [597], thần Phí Trường Phòng, Học Sĩ Phiên Dịch Kinh Điển).” (4) Tên một loại học vị.
- Vị quan lớn ở Bộ Lễ, em ruột của mẹ vua Khải Định.
- Thập Nhị Thần (十二辰): tức 12 Chi, Tý (子), Sửu (丑), Dần (寅), Mão (卯), Thìn (辰), Tỵ (巳), Ngọ (午), Mùi (未), Thân (申), Dậu (酉), Tuất (戌) và Hợi (亥). Xưa kia, người ta dùng 12 Chi nầy để ghi giờ, ngày, tháng và năm. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Phùng Tướng Thị (馮相氏), có đoạn: “Chưởng thập hữu nhị tuế, thập hữu nhị nguyệt, thập hữu nhị thần, thập nhật, nhị thập hữu tinh chi vị, biện kỳ tự sự, dĩ hội thiên vị (掌十有二歲、十有二月、十有二辰、十日、二十有八星之位、辨其敘事、以會天位, nắm trọn 12 năm, 12 tháng, 12 giờ, 10 ngày, phương vị của 28 ngôi sao, biết rõ thứ tự của chúng, để hợp với vị trí của trời).”
- Vụ (婺): tên một ngôi sao, tức sao Vụ Nữ (婺女), hay Nữ Tú (女宿), Tu Nữ (須女), là một trong 24 ngôi sao; là sao thứ 3 trong bảy ngôi sao Huyền Võ (玄武). Như trong bài Tống Võ Tuyên Quý Phi Lụy (宋武宣貴妃誄) của Tạ Trang (謝莊, 421-466) nhà Tống thời Nam Triều có câu: “Vọng nguyệt phương Nga, chiêm tinh tỷ Vụ (望月方娥、瞻星比婺, ngắm trăng xem Hằng Nga, nhìn sao sánh Vụ Nữ).”
- Dao Trì, Diêu Trì (瑤池): tên gọi một cái hồ trên núi Côn Lôn (崑崙山) trong truyền thuyết cổ đại, là nơi Tây Vương Mẫu (西王母) cư ngụ. Như trong Sử Ký (史記), phần Đại Uyển Liệt Truyện Luận (大宛列傳論), cho biết rằng: “Côn Lôn kỳ cao nhị thiên ngũ bách dư lí, kỳ thượng hữu lễ tuyền, Dao Trì (崑崙其高二千五百餘里、其上有醴泉、瑤池, núi Côn Lôn cao hơn 2.500 dặm, trên đó có suối nước ngọt, Dao Trì).” Trong Mục Thiên Tử Truyện (穆天子傳, hay Chu Vương Du Hành [周王遊行]) quyển 3 có ghi rằng: “Ất Sửu, thiên tử thương Tây Vương Mẫu ư Dao Trì chi thượng (乙丑、天子觴西王母於瑤池之上, vào năm Ất Sửu, thiên tử cùng uống rượu với Tây Vương Mẫu trên Dao Trì).” Trong bài tựa Đế Kinh Thiên (帝京篇) của Đường Thái Tông Lý Thế Dân (唐太宗李世民, tại vị 626-649) có đoạn rằng: “Trung lương khả tiếp, hà tất hải thượng thần tiên hồ ? Phong Cảo khả du, hà tất Dao Trì chi thượng hồ ? (忠良可接、何必海上神仙乎、豐鎬可遊、何必瑤池之上乎, đấng trung lương có thể giao tiếp, nào cần thần tiên trên biển ư ? Phong Cảo [hai kinh đô nhà Chu] có thể ngao du, nào cần lên trên Dao Trì ư ?).” Lý Thương Ẩn (李商隱, 812/813-858), đại thi hào nhà Đường, có để lại bài thơ Diêu Trì (瑤池) như sau: “Diêu Trì A Mẫu ỷ song khai, hoàng trúc ca thanh động địa ai, bát tuấn nhật hành tam vạn lí, Mục Vương hà sự bất trùng lai (瑤池阿母綺窗開、黃竹歌聲動地哀、八駿日行三萬里、穆王何事不重來, Diêu Trì A Mẫu dõi trông ai, trúc vàng lời hát động ngân dài, tám ngựa một ngày ba vạn dặm, Mục Vương cơ sự chẳng về đây).” Mạc Đĩnh Chi (莫挺之, 1280-1346), cao quan dưới thời vua Trần Anh Tông (陳英宗, tại vị 1293-1314), có làm bài điếu văn khi đi sứ sang Tàu: “Thanh thiên nhất đóa vân, hồng lô nhất điểm tuyết, Thượng Uyển nhất chi hoa, Dao Trì nhất phiến nguyệt. Y ! Vân tán tuyết tiêu hoa tàn nguyệt khuyết (青天一朵雲、烘爐一點雪、上苑一枝花、瑤池一片月、噫雲散雪消花殘月缺, Trời xanh một đóa mây, lò lửa một điểm tuyết, Thượng Uyển một cành hoa, Dao Trì một vầng nguyệt. Ôi ! Mây tan tuyết tiêu hoa tàn trăng khuyết).”
- Phát tấu (發奏): văn thư của bề tôi bên dưới khải tấu, tâu trình sự việc lên đức vua hay đấng tôn kính; còn gọi là tấu văn (奏聞). Như trong Hậu Hán Thư (後漢書), phần An Đế Kỷ (安帝紀), có đoạn: “Tam Ty chi chức, nội ngoại thị giám, ký bất tấu văn, hựu vô cử chánh (三司之職、內外是監、旣不奏聞、又無舉正, chức của Ba Ty, trong ngoài giám sát, đã không tâu trình, lại chẳng sửa đúng).” Hay trong Tập Di Ký (集异記), phần Diệp Pháp Thiện (葉法善), của Tiết Dụng Nhược (薛用弱, ?-?) nhà Đường, lại có đoạn: “Huyền Tông thừa tộ kế thống, sư ư thượng kinh, tá hựu thánh chúa, phàm cát hung động tĩnh, tất dự tấu văn (玄宗承祚繼統、師於上京、佐佑聖主、凡吉凶動靜、必預奏聞, vua Huyền Tông kế thừa ngôi báu trị vì, sư lên kinh đô, phò tá thánh chúa, phàm lành dữ động tĩnh, đều phải tâu trình trước).”