45. Sơ Dạ Cáo Giác Linh Sớ
Nguyên văn:
初夜告覺靈疏
伏以
師情在念、忝爲紹派之徒、法乳留恩、殊愧傳衣之子、道懷耿切、齋事薰修。拜疏爲
大南國...某寺奉于案前、獻供初夜報德酬恩事。今法子孝徒等、惟日仰干尊德、俯鑒微誠
伏爲恭薦尊師徽號和尚之覺靈。
恭惟、尊師塵衣去舊、眞相自明、...十年法臘薰修、表出叢林之上、...十餘年花化道、弘推大海之波、靈源直指于長空、法性齊登于覺地、散雲衢張寶葢、巍巍坐斷涅槃城、杖兔角拂龜毛、寂寂不離光明藏。兹當初夜、獻告儀筵、訂明日以遷棺、具疏文而拜白、願祈尊德、俯賜威光、克享誠心、庶諧愚意、俾以禪門釋子、燈燈燦爛祥光...(如前)、但下情無任激切屛營之至。謹疏。
Phiên âm:
SƠ DẠ1 CÁO GIÁC LINH SỚ
Phục dĩ
Sư tình tại niệm, thiểm vi thiệu phái chi đồ; pháp nhũ lưu ân, thù quý truyền y2 chi tử; đạo hoài cảnh thiết, trai sự huân tu.
Bái sớ vị: Đại Nam Quốc … mỗ tự phụng vu án tiền, hiến cúng sơ dạ, báo đức thù ân sự. Kim Pháp tử … hiếu đồ đẳng, duy nhật ngưỡng can tôn đức, phủ giám vi thành.
Phục vị: Cung tiến tôn sư huy hiệu Hòa Thượng chi giác linh.
Cung duy: Tôn sư trần y khử cựu, chân tướng3 tự minh; … thập niên Pháp Lạp huân tu, biểu xuất tùng lâm chi thượng; … thập dư niên hoa hóa đạo, hoằng thôi đại hải chi ba; linh nguyên4 trực chỉ vu trường không, Pháp Tánh5 tề đăng vu giác địa; tán vân cù trương bảo cái,6 nguy nguy tọa đoạn Niết Bàn thành; trượng thố giác7 phất quy mao,8 tịch tịch bất ly Quang Minh Tạng.9 Tư đương sơ dạ, hiến cáo nghi diên; đính minh nhật dĩ thiên quan, cụ sớ văn nhi bái bạch; nguyện kỳ tôn đức, phủ tứ uy quang; khắc hưởng thành tâm, thứ hài ngu ý; tỷ dĩ Thiền môn Thích tử, đăng đăng xán lạn tường quang … (như tiền), đản hạ tình vô nhậm kích thiết bình doanh chi chí. Cẩn sớ.
Dịch nghĩa:
SỚ CÚNG ĐẦU ĐÊM CÁO GIÁC LINH
Cúi nghĩ:
Tình thầy nhớ mãi, hỗ là nối tiếp học trò; sữa pháp ơn sâu, thẹn lắm truyền y con quý; lòng thường thổn thức, trai sự chăm lo.
Lạy Sớ tâu: Việc Chùa …, nước Đại Nam, vâng đến trước án, dâng cúng đầu đêm, báo đức đáp ơn. Nay Pháp tử … hiếu đồ … Hôm nay ngưỡng trông tôn đức, chứng giám lòng thành.
Cúi vì: Dâng cúng giác linh tôn sư Hòa Thượng (huy hiệu) …
Nép nghĩ: Tôn sư áo trần rũ bụi, chân tướng sáng trong; … mươi năm Pháp Lạp huân tu, nổi bật tùng lâm trên hết; hơn … mươi năm tròn hóa đạo, đẩy lùi biển lớn sóng cồn; nguồn chơn chỉ thẳng nơi không trung, Pháp Tánh cùng lên nơi cõi Giác; tan đường mây giăng lọng báu, lồng lộng ngồi vững Niết Bàn thành; chống sừng thỏ vẫy lông rùa, lẳng lặng chẳng lìa Quang Minh Tạng. Nay đang đầu đêm, dâng cúng nghi diên; chọn ngày mai để di quan, đủ sớ văn mà thưa bạch; nguyện cầu tôn đức, ban xuống hào quang; chứng hưởng thành tâm, may thỏa ngu ý; khiến cho Thiền môn Thích tử, đèn đèn sáng lạn hào quang … (như trước); kẻ hạ tình cảm kích thiết tha âu lo khôn xiết. Kính dâng Sớ.
Chú thích:
- Sơ dạ (s: prathama-yāma, p: paṭhama-yāma, 初夜): đầu đêm, còn gọi là sơ canh (初更, canh đầu), là một trong 6 thời khắc trong một ngày đêm; tức khoảng 8 giờ tối sau buổi trưa. Trong kinh điển thường dùng thuật ngữ nầy. Như trong Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 53 có câu: “Ư thực trung năng tri chỉ túc, sơ dạ hậu dạ tinh tấn giác ngộ (於食中能知止足、初夜後夜精進覺悟, ngay trong khi ăn có thể biết đủ và dừng lại, đầu đêm giữa đêm tinh tấn giác ngộ).” Hay trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 16 lại có đoạn: “Hành giả như thị, ư thiện pháp trung, sơ dạ, trung dạ, hậu dạ, tụng kinh, tọa Thiền, cầu chư pháp thật tướng (行者如是、於善法中、初夜、中夜、後夜、誦經、坐禪、求諸法實相, hành giả như vậy, ở trong thiện pháp, đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm, tụng kinh, ngồi Thiền, cầu thật tướng các pháp).” Hoặc trong Pháp Hoa Kinh Hiển Ứng Lục (法華經顯應錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1540) quyển 1, phần Thiên Thai Tảo Thiền Sư (天台璪禪師), cũng có đoạn: “Sơ dạ tọa Thiền, nãi kiến nhất cửu đầu long tùng địa dũng xuất, thượng thăng hư không (初夜坐禪、乃見一九頭龍從地涌出、上升虛空, Thiền Sư đầu đêm ngồi Thiền, bèn thấy một con rồng chín đầu từ đất vọt ra, bay lên hư không).”
- Truyền y (傳衣): thuật ngữ của Thiền Tông. Tông phái nầy lấy đại y Kim Lan (金襴, y Ca Sa được dệt bằng tơ vàng) làm Pháp Y (法衣), truyền trao lại cho đệ tử như là tín vật truyền pháp. Từ thời đức Phật còn tại thế cho đến nay, chư Tổ sư đều vâng giữ truyền thống linh thiêng nầy. Trong Thiền lâm cũng tuân thủ cách thức nầy, vị thầy thường chọn ra trong hàng đồ chúng đệ tử xuất sắc, để lấy giáo pháp truyền trao cho người đó, đồng thời ban cho vị đó tăng y, và y Ca Sa nầy được gọi là tín y (信衣). Ngoài ra, truyền thọ giáo pháp cũng có tên là truyền y. Vì y Ca Sa (s: kaṣāya; p: kāsāya, 袈裟) và Bát (s: pātra, p: patta, 鉢) là hai pháp cụ thường xuyên được mang theo bên mình chư Tăng Ni, từ đó trở thành vật được truyền thừa giữa thầy với trò; vì vậy truyền pháp cũng được gọi là truyền y bát (傳衣鉢). Sau nầy, thậm chí truyền trao các nghệ năng, học thuật cũng gọi là truyền y bát. Như trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 3 có đoạn rằng: “Tích Đạt Ma sơ chí, nhân vị tri tín, cố truyền y dĩ minh đắc pháp; kim tín tâm dĩ thục, y nãi tranh đoan, chỉ ư nhữ thân, bất phục truyền dã (昔達磨初至、人未知信、故傳衣以明得法、今信心已熟、衣乃爭端、止於汝身、不復傳也, xưa kia khi Đạt Ma mới đến, con người chưa biết tin, nên truyền trao y để cho biết đắc pháp; nay tín tâm đã chín muồi, y lại tranh giành, dừng nơi thân ngươi, không nên truyền nữa).” Trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) còn cho biết thêm rằng: “Tây Thiên nhị thập bát tổ, Đường Độ lục tổ, quá khứ thánh nhân, tận đắc truyền y phó pháp, chí Đường đại Lục Tổ chi hậu, đắc đạo giả như đạo ma trúc vi, bất truyền kỳ y, chỉ truyền kỳ pháp, giai dĩ hương vi tín (西天二十八祖、唐土六祖、過去聖人、盡得傳衣付法、至唐代六祖之後、得道者如稻麻竹葦、不傳其衣、只傳其法、皆以香爲信, hai mươi tám vị Tổ Tây Thiên [Ấn Độ], sáu vị Tổ Đường Độ [Trung Hoa], thánh nhân trong quá khứ, đều được truyền y phú pháp, đến sau thời Lục Tổ Huệ Năng nhà Đường, người đắc đạo nhiều như lúa mè, tre lau, nên không truyền y ấy nữa, chỉ truyền pháp ấy, đều lấy hương làm tín vật).” Hay trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 117, phần Tín Châu Bác Sơn Di Sanh Hoằng Hỷ Thiền Sư (信州博山怡生弘喜禪師), lại có câu: “Tích nhật Hoàng Mai dạ bán truyền y, kim triêu Bác Sơn đương đường thọ ký (昔日黃梅夜半傳衣、今朝博山當堂授記, ngày xửa Hoàng Mai nửa đêm truyền y, sáng nay Bác Sơn Thiền đường thọ ký).” Hoặc trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) quyển 19, bài Tổ Ý (祖意), có đoạn: “Lục Tổ bất truyền y, Đạt Ma lưu chích lí, dục phân dị dữ đồng, thấu đức tri huyền chỉ (六祖不傳衣、達摩留隻履、欲分異與同、透得知玄旨, Lục Tổ chẳng truyền y, Đạt Ma để chiếc dép, muốn biết khác với đồng, biết thấu rõ huyền chỉ).”
- Chân tướng, chơn tướng (眞相): tức bản tướng (本相, hình tướng gốc), thật tướng (實相, hình tướng thật), bản lai diện mục (本來面目, mặt mũi xưa nay) của sự vật, vạn pháp. Trong Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh Chú Giải (楞伽阿跋多羅寶經註解, Taishō Vol. 39, No. 1789) quyển 1 định nghĩa rằng: “Chơn tướng giả, tùy duyên bất biến, thể tánh chơn tịnh dã (眞相者、隨緣不變、體性眞淨也, chơn tướng là tùy duyên không thay đổi, thể tánh trong sạch).” Hay trong Tục Thanh Lương Truyện (續清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2100) quyển Hạ có đoạn: “Thứ nhật, cúng dường chơn dung cập chư Thánh tượng dĩ; ngọ hậu, hiện Bồ Tát đại chơn tướng, ư bạch vân chi đoan (次日、供養眞容及諸聖像己、午後、現菩薩大眞相、於白雲之端, ngày hôm sau, khi cúng dường chơn dung và các tượng Thánh xong; sau buổi trưa, hiện hình tướng thật to lớn của Bồ Tát, nơi đầu đám mây trắng).” Hoặc trong Vi Lâm Thiền Sư Lữ Bạc Am Cảo (爲霖禪師旅泊菴稿, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1442) quyển 4, bài Thế Tôn Chiên Đàn Thụy Tượng Tán (世尊旃檀瑞像贊), lại có câu: “Như Lai chơn tướng nguyên vô tướng, xảo tượng như hà khắc đắc thành (如來眞相原無相、巧匠如何刻得成, Như Lai chơn tướng vốn không tướng, thợ khéo làm sao khắc được thành).”
- Linh nguyên (靈源): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho căn nguyên của tất cả, tức Phật tâm, Phật tánh, chân như bình đẳng tuyệt đối. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 12 có đoạn: “Nhân căn hữu lợi độn, đạo vô Nam Bắc tổ, linh nguyên minh kiểu khiết, chi phái ám lưu chú, chấp sự nguyên thị mê, khế lý diệc phi ngộ (人根有利鈍、道無南北祖、靈源明皎潔、枝派暗流注、執事原是迷、契理亦非悟, căn người có bén lụt, đạo không Nam Bắc tổ, Phật tâm sáng trong suốt, dòng phái tối chảy vào, chấp chặt nguyên là mê, khế lý cũng chẳng ngộ).” Hay trong Vĩnh Minh Trí Giác Thiền Sư Duy Tâm Quyết (永明智覺禪師唯心訣, Taishō Vol. 48, No. 2018) lại có đoạn: “Tam Thừa chi chánh triệt, nhập đạo chi yếu tân, Bát Nhã chi linh nguyên, Niết Bàn chi quật trạch (三乘之正轍、入道之要津、般若之靈源、涅槃之窟宅, Ba Thừa ấy lối chính, vào đạo ấy bến bờ, Bát Nhã ấy nguồn chơn, Niết Bàn ấy nhà động).” Hoặc trong Chứng Đạo Ca Chú (證道歌註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1293) cũng có đoạn: “Nguyên phù linh nguyên trạm tịch, pháp hải uyên thâm, bổn vô danh tướng chi thù, an hữu thánh phàm chi dị (原夫靈源湛寂、法海淵深、本無名相之殊、安有聖凡之異, nguyên lai nguồn linh vẳng lặng, biển pháp uyên thâm, vốn không danh tướng chia sai, sao có thánh phàm tạo khác).”
- Pháp Tánh, Pháp Tính (s: dharmatā, p: dhammatā, 法性): còn gọi là Thật Tướng Chân Như (實相眞如), Chân Pháp Tánh (眞法性), Chân Tánh (眞性); là tên gọi khác của Chân Như (眞如), v.v.; tuy tên gọi khác mà đồng thể; là thể tánh chân thật của các pháp, cũng là bản tánh chân thật bất biến vốn có của hết thảy hiện tượng trong vũ trụ. Pháp Tánh là gốc của vạn pháp, nên còn gọi là Pháp Bổn (法本). Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 32 lấy tổng tướng và biệt tướng của các pháp cùng quy về Pháp Tánh; cho rằng các pháp có mỗi mỗi tướng (tướng sai biệt của hiện tượng) và thật tướng. Về cái gọi là mỗi mỗi tướng khác nhau, tỷ dụ như sáp ong đốt chảy thành nước, mất đi tướng ban đầu của nó, do vì không cố định, nên phân biệt tìm cầu không thể được; chính vì không thể được nên gọi là “không (空)” (tức không có tự tánh); vì vậy không chính là thật tướng của các pháp. Đối với hết thảy tướng sai biệt mà nói, do vì tự tánh của chúng là không, nên đều là đồng nhất, được gọi là “như (如).” Tất cả các tướng đều quy về không, vì vậy gọi không là Pháp Tánh. Lại nữa, như trong đá màu vàng có đủ tánh chất của vàng, trong tất cả các pháp trên thế gian đều có Pháp Tánh của Niết Bàn; vì vậy mới bảo rằng thật tánh bản nhiên của các pháp là Pháp Tánh. Điều nầy đồng nghĩa với ý nghĩa gọi là “chúng sanh, quốc độ đồng nhất Pháp Tánh (眾生、國土同一法性, chúng sanh, quốc độ cùng một Pháp Tánh)” trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842). Trong Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經, Taishō Vol. 11, No. 310) quyển 52, Đức Thích Tôn đã từng khai thị về nghĩa thật tánh của các pháp, dạy rằng Pháp Tánh không có đổi khác, không có tăng thêm, không tạo tác và chẳng có không tạo tác; Pháp Tánh không có phân biệt, không có sở duyên, đối với tất cả pháp có thể chứng đắc thể tướng cứu cánh. Cũng có thuyết cho rằng Như Lai Tạng (如來藏) đồng nghĩa với Pháp Tánh. Các luận sư giải thuyết về Pháp Tánh không giống nhau. Đại sư Từ Ân (慈恩, tức Khuy Cơ [窺基, 632-682]) của Pháp Tướng Tông thì cho rằng Pháp Tánh là Viên Thành Thật Tánh (圓成實性) trong 3 tánh; Y Tha Khởi Tánh (依地起性) nầy là nơi nương tựa của hết thảy các pháp hữu vi. Trong khi đó, đại sư Gia Tường Cát Tạng (吉藏, 549-623) của Tam Luận Tông lại chủ trương rằng chân không là Pháp Tánh. Kế đến, đại sư Hiền Thủ (賢首, tức Pháp Tạng [法藏, 643-712]), vị Tổ thứ 3 của Hoa Nghiêm Tông, cho rằng chân như có hai nghĩa là bất biến và tùy duyên; nếu lấy nghĩa tùy duyên, biến tạo ra các pháp, tuy biến tạo mà vẫn giữ tánh chân như bất biến. Chân như tùy duyên biến tạo vạn pháp như vậy, nên gọi chân như là Pháp Tánh. Đại sư Trí Khải (智顗, 538-597) của Thiên Thai Tông luận rằng Pháp Tánh có đủ ô nhiễm, trong sạch, tức tánh thiện tánh ác; vì tánh có đủ thiện và ác, nên sanh ra các pháp ô nhiễm, trong sạch. Như trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 16, phẩm Thăng Tu Di Sơn Đảnh (昇須彌山頂品) 13, có đoạn: “Pháp Tánh bổn không tịch, vô thủ diệc vô kiến, tánh không tức thị Phật, bất khả đắc tư lường (法性本空寂、無取亦無見、性空卽是佛、不可得思量, Pháp Tánh vốn không lặng, không cầm cũng không thấy, tánh không tức là Phật, suy lường chẳng thể được).” Trong bài tựa của Khởi Tín Luận Tục Sớ (起信論續疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 45, No. 764) quyển 1 giải thích rằng: “Pháp Tánh giả, vị chân như bất biến, tùy duyên nhi năng thành nhất thiết pháp (法性者、謂眞如不變、隨緣而能成一切法, Pháp Tánh nghĩa là chân như bất biến, tùy duyên mà có thể thành tất cả các pháp).” Hoặc trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 87 cũng có đoạn: “Hựu chư pháp tức Pháp Tánh nhân duyên, nãi chí Đệ Nhất Nghĩa diệc thị nhân duyên (又諸法卽是法性因緣、乃至第一義亦是因緣, lại các pháp là nhân duyên của Pháp Tánh, cho đến Đệ Nhất Nghĩa cũng là nhân duyên).”
- Bảo cái (寶蓋): lọng báu, dù báu; là từ mỹ xưng cho lọng hay dù; tức chỉ cho lọng trời được trang sức bằng 7 thứ báu; còn gọi là hoa cái (華蓋, lọng hoa). Loại nầy thường được treo trên tòa cao của Phật, Bồ Tát hay Giới Sư. Theo Phật Thuyết Duy Ma Cật Kinh (佛說維摩詰經, Taishō Vol. 14, No. 474), phẩm Phật Quốc (佛國品) thứ 1, cho biết rằng trong thành Tỳ Da Ly (s: Vaiśālī, p: Vesālī, 毘耶離) có người con một vị trưởng giả tên Bảo Tích (寶積), cùng với 500 con trưởng giả khác, cầm lọng bảy báu đến chỗ Đức Phật. Ngoài ra, trong các kiến trúc thời cổ đại, trên đỉnh tháp đá, v.v., có điêu khắc rất tinh xảo hình dạng giống như cái lọng. Trong Huệ Lâm Tông Bổn Thiền Sư Biệt Lục (慧林宗本禪師別錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1450) có câu: “Thiên thùy bảo cái trùng trùng tú, địa dũng kim liên diệp diệp tân (天垂寶蓋重重秀、地涌金蓮葉葉新, trời buông lọng báu lớp lớp đẹp, đất vọt sen vàng lá lá tươi).” Hay trong Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh (佛說大乘無量壽莊嚴經, Taishō Vol. 12, No. 363) quyển Hạ có đoạn: “Đông phương hằng hà sa số Phật sát, nhất nhất sát trung, hữu vô lượng vô số Bồ Tát Ma Ha Tát, cập vô lượng vô số Thanh Văn chi chúng, dĩ chư hương hoa tràng phan bảo cái, trì dụng cúng dường Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật (東方恆河沙數佛剎、一一剎中、有無量無數菩薩摩訶薩、及無量無數聲聞之眾、以諸香花幢幡寶蓋、持用供養極樂世界無量壽佛, Hằng hà sa số cõi Phật ở phương Đông, trong mỗi một cõi ấy, có vô lượng vô số Bồ Tát Ma Ha Tát, và vô lượng vô số chúng Thanh Văn, lấy các hương hoa, tràng phan, lọng báu, mang đến cúng dường đức Phật Vô Lượng Thọ của thế giới Cực Lạc).” Hoặc trong Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục (圓悟佛果禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1997) quyển 4 lại có đoạn: “Tổ Phật đồng căn bổn, nhân thiên cọng tán dương, kết thành bảo cái tường vân, cọng chúc Nam sơn thánh thọ (祖佛同根本、人天共讚揚、結成寶蓋祥雲、共祝南山聖壽, Tổ Phật cùng gốc rễ, trời người cùng ngợi khen, kết thành lọng báu mây lành, cùng chúc núi Nam thánh thọ).”
- Thố giác (兔角): sừng thỏ. Con thỏ không bao giờ mọc sừng, nên lấy sừng thỏ để thí dụ cho việc không bao giờ có được, không bao giờ xảy ra; chỉ có người ngu mới nhận lầm tai con thỏ là sừng mà thôi. Thiền ngữ nầy cũng dùng để diễn tả tâm cảnh vô chấp, hoàn toàn tự tại trước vạn pháp. Đại sư Lương Khoan (良寛, Ryōkan, 1758-1831), Thiền kiệt của Tào Động Tông Nhật Bản, có bài thơ rằng: “Thủ bả thố giác trượng, thân phi không hoa y, túc trước quy mao lí, khẩu ngâm vô thanh thi (手把兔角杖、身被空華衣、足著龜毛履、口吟無聲詩, tay cầm sừng thỏ gậy, thân mặc áo hoa không, chân mang lông rùa dép, miệng ngâm thơ vô thanh).” Trong Hàn Sơn Thi (寒山詩) có bài thơ chia xẻ cùng tâm cảnh tương tợ như vậy: “Thân trước không hoa y, túc niếp quy mao lí, thủ bả thố giác cung, nghĩ xạ vô minh quỷ (身著空花衣、足躡龜毛履、手把兔角弓、擬射無明鬼, thân mặc áo không hoa, chân xỏ lông rùa dép, tay cầm sừng thỏ cung, nhắm bắn vô minh quỷ).” Hay như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 35, cũng có đoạn: “Thố giác trượng lao thủy nguyệt tung, quy mao thằng phược hư không cốt (兔角杖撈水月蹤、龜毛繩縛虛空骨, gậy sừng thỏ mò vết trăng trong nước, dây thừng lông rùa cột xương trên hư không).” Hoặc trong bài thơ Văn Xích Tùng Thư Đạo Sĩ Hạ Thế (聞赤松舒道士下世) của Quán Hưu (貫休, 823-912) nhà Tiền Thục lại có câu: “Huyền quan bình thố giác, ngọc khí trác kê quan (玄關評兔角、玉器琢雞冠, cửa huyền luận sừng thỏ, đồ ngọc mài mũ gà).”
- Quy mao (龜毛): lông rùa. Cũng như sừng thỏ, lông rùa là vật không có thật, vì trời sinh con rùa không bao giờ mọc lông. Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 12 khẳng định rằng: “Hựu như thố giác, quy mao, diệc đản hữu danh nhi vô thật (又如兔角、龜毛、亦但有名而無實, lại như sừng thỏ, lông rùa, cũng chỉ có tên mà không thật).” Trong Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 10 dạy rằng: “Nhân ngã như quy mao thố giác bất khả đắc (人我如龜毛兔角不可得, ta và người cũng như lông rùa sừng thỏ, không thể có được).” Hay trong Sở Thạch Phạn Kì Thiền Sư Ngữ Lục (楚石梵琦禪師語錄, 卍Tục Tạng KinhVol. 71, No. 1420) lại có câu: “Thiết ngưu bối thượng quát quy mao, thạch nữ yêu biên tài thố giác (鐵牛背上括龜毛、石女腰邊裁兔角, trên lưng trâu sắt tìm lông rùa, bên hông gái đá cắt sừng thỏ).” Hoặc trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 12, phần Thượng Thư Huyễn Am Hồ Cư Sĩ (尚書幻菴胡居士), cũng có câu: “Thố giác trượng thiêu Hương Thủy hải, quy mao thằng phược Nga Mi sơn (兔角杖挑香水海、龜毛繩縛蛾眉山, gậy sừng thỏ khuấy biển Hương Thủy, thừng lông rùa cột núi Nga Mi).”
- Quang Minh Tạng (光明藏): nơi tàng chứa ánh sáng, tức chỉ cho thân của đức Như Lai. Như trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經, Taishō Vol. 20, No. 1060) có đoạn: “Đương tri kỳ nhân tức thị Quang Minh Tạng, nhất thiết Như Lai quang minh sở chiếu cố (當知其人卽是光明藏、一切如來光明所照故, phải biết người ấy tức là Quang Minh Tạng, vì được ánh sáng của tất cả Như Lai chiếu tỏa).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 21 cũng có đoạn: “Ư Quang Minh Tạng trung diệc vị chi độc dược, diệc vị chi Đề Hồ, Đề Hồ độc dược bổn vô tự tánh (於光明藏中亦謂之毒藥、亦謂之醍醐、醍醐毒藥本無自性, ở trong Quang Minh Tạng cũng gọi đó là thuốc độc, cũng gọi đó là Đề Hồ, Đề Hồ thuốc độc vốn không tự tánh).” Hoặc trong bài Mai Lãnh Sơn Cư Thi Dẫn (梅嶺山居詩引) của Trương Hoàng Ngôn (張煌言, 1620-1664) nhà Minh lại có đoạn: “Thiền duyệt chi dư, toại thành Mai Lãnh tân vịnh. Tao da ? Kệ da ? Độc chi như tọa Quang Minh Tạng hĩ (禪悅之餘、遂成梅嶺新詠、騷耶、偈耶、讀之如坐光明藏矣, Vui Thiền nhàn rỗi, bèn thành xướng vịnh Mai Lãnh. Thơ Tao ư ? Kệ ư ? Đọc rồi như ngồi Quang Minh Tạng vậy).”