50. Tạ Thổ Trạng
Nguyên văn:
謝土状
設供謝土祈安 爲狀仰事。兹據
大南國...寺奉
佛設供謝土安靈事。今齋主兹爲本師徽號和尚之覺靈、神棲淨域、魄謝塵籠、卜以良晨、奉迎入塔、旣安舍利以圓成、聊謝土神之薄禮、謹以金銀冠帶鞋笠清酌庶品之儀、右謹奉上。恭請
當山后土尊神座前。本處后土氏之神座前。普及侍從部下一切威靈同垂鑒格。
伏願、聖眼非遙、神心不遠、俾覺靈常安常樂、扶齋主曰壽曰康、凡居四序之中、必獲萬全之庇、仰賴尊神之嘉惠也。謹狀。
Phiên âm:
TẠ THỔ1 TRẠNG
Thiết Cúng Tạ Thổ Kỳ An Vị Trạng ngưỡng sự
Tư cứ: Đại Nam Quốc … tự phụng Phật thiết cúng Tạ Thổ an linh sự. Kim trai chủ … tư vị Bổn Sư huy hiệu Hòa Thượng chi Giác Linh, thần thê Tịnh Vức,2 phách tạ trần lung;3 bốc dĩ lương thần, phụng nghênh nhập tháp; ký an Xá Lợi dĩ viên thành, liêu tạ Thổ Thần chi bạc lễ; cẩn dĩ kim ngân quan đái, hài lạp thanh chước thứ phẩm chi nghi, hữu cẩn phụng thượng.
Cung thỉnh: Đương Sơn Hậu Thổ4 Tôn Thần tọa tiền, Bổn Xứ Hậu Thổ Thị Chi Thần tọa tiền; phổ cập thị tùng bộ hạ, nhất thiết uy linh, đồng thùy giám cách.
Phục nguyện: Thánh nhãn phi dao, Thần tâm bất viễn; tỷ giác linh thường an thường lạc, phò trai chủ viết thọ viết khang; phàm cư Tứ Tự5 chi trung, tất hoạch vạn toàn chi tí. Ngưỡng lại Tôn Thần chi gia huệ dã. Cẩn trạng.
Dịch nghĩa:
TRẠNG CÚNG TẠ THỔ THẦN
Thiết Cúng Tạ Thổ Thần Cầu An Vì Trạng kính dâng
Nay căn cứ: Việc Chùa … nước Đại Nam, thờ Phật, thiết cúng tạ Thổ Thần, an linh vị. Nay trai chủ …, kính vì giác linh Bổn Sư Hòa Thượng … (huy hiệu), thần nương Tịnh Vức, phách thoát lồng trần; chọn đúng giờ lành, cung nghinh nhập tháp; an trí Xá Lợi đã viên thành, chút tạ Thổ Thần với lễ bạc; kính lấy vàng bạc, mũ đai, giày nón, rượu trong phẩm vật lễ nghi, kính cẩn dâng lên.
Cung thỉnh: Hậu Thổ Tôn Thần núi nầy trước tòa, Thần Hậu Thổ Thị xứ nầy trước tòa, cùng khắp đi theo bộ hạ, hết thảy oai linh, cùng thương chứng giám.
Cúi mong: Mắt Thánh chẳng xa, Thần tâm gần đó; khiến giác linh thường an thường lạc, giúp trai chủ được thọ được an; bốn mùa phàm sống ở trong, tất được vạn toàn che chở. Ngưỡng cậy Tôn Thần ban cho ân huệ. Kính dâng Trạng.
Chú thích:
- Tạ Thổ (謝土): tạ ơn Thổ Thần. Vào thời cổ đại, đây là một hình thức cúng tế đáp tạ Thổ Thần sau khi nhà cửa đã hoàn thành. Trong bản Di Trú Thượng Viện Biên Hạ Cáo Văn (移住上院邊廈告文) của Lý Chí (李贄, 1527-1602) nhà Minh có đoạn rằng: “Kim thượng vị tố Phật, vị cảm nhập cư chánh thất, thả diệc vị cảm tạ Thổ (今尚未塑佛、未敢入居正室、且亦未敢謝土, nay vẫn còn chưa đắp tượng Phật, chưa dám vào ở phòng chính, cũng chưa dám cúng tạ Thổ Thần).” Hay trong Lô Sơn Ký (廬山記, Taishō Vol. 51, No. 2095) lại có câu: “Tạ Thổ chi dạ, phong vân không tiềm, tiên đăng viễn chiếu (謝土之夜、風雲空潛、仙燈遠照, đêm cúng tạ Thổ Thần, gió mây ẩn trên không, đèn tiên xa tỏa sáng).”
- Tịnh Vức (淨域): tên gọi khác của cõi Tịnh Độ, sau được dùng để chỉ cho tự viện Phật Giáo. Như trong Nam Sử (南史), phần Ẩn Dật Truyện (隱逸傳), Dữu Sân (庾詵), có câu: “Thượng Hành tiên sinh dĩ sanh Di Đà Tịnh Vức hĩ (上行先生已生彌陀淨域矣, Thượng Hành tiên sinh đã sanh về cõi Tịnh Độ của Phật Di Đà rồi !).” Hay trong bài tựa của Tịnh Độ Toàn Thư (淨土全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1176) quyển 1 có đoạn: “Tắc thử thư thành vi phá chướng chi tiền trận, cát hoặc chi lợi phong, Tịnh Vức chi bảo phiệt, nhập Thánh chi yếu tân (則此書誠為破障之前陣、割惑之利鋒、淨域之寶筏、入聖之要津, thời sách nầy thật sự là phá chướng ngại tiền tận, cắt nghi ngờ dao bén, Tịnh Vức ấy bè báu, nhập Thánh ấy bến bờ).” Hoặc trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 3 lại có câu: “Sái Cam Lộ ư Thiền lâm, chuyển Pháp Luân ư Tịnh Vức (灑甘露於禪林、轉法輪於淨域, rưới Cam Lộ nơi Thiền lâm, chuyển Xe Pháp nơi Tịnh Vức).”
- Trần lung (塵籠): lồng trần, tức ám chỉ sự trói buộc của trần thế. Như trong bài thơ Túc Chung Nam Sơn Hạ Bách Tháp Viện (宿終南山下百塔院) của Tô Thuấn Khâm (蘇舜欽, 1008-1048) nhà Tống có câu: “Khu mã sơn tiền phỏng cổ tung, tăng cư tiêu sái cách trần lung (驅馬山前訪古蹤、僧居蕭灑隔塵籠, giục ngựa lên núi thăm dấu xưa, tăng sống thoát tục xa trần gian).” Hay trong bài thơ Trương Công Động (張公洞) của Lý Thê Quân (李栖筠, 719-776) nhà Đường cũng có câu: “Ngã bổn Đạo môn tử, nguyện ngôn xuất trần lung (我本道門子、願言出塵籠, ta vốn Đạo môn kẻ, nguyện ra khỏi lồng trần).” Hoặc trong Phổ Am Ấn Túc Thiền Sư Ngữ Lục (普菴印肅禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1356) quyển 1, bài Dữ Lễ Lăng Chân Như Cư Sĩ (與醴陵眞如居士), lại có đoạn: “Thông nhất vạn sự tất, chung bất bị trần lung, phi trần thể bất động (通一萬事畢、終不被塵籠、非塵體不動, thông một muôn sự hết, rốt chẳng bị lồng trần, không thể trần chẳng động).”
- Hậu Thổ (后土): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) Tôn xưng đối với đại địa, như trong chương Hy Công Thập Ngũ Niên (僖公十五年) của Tả Truyện (左傳) có đoạn rằng: “Quân lý Hậu Thổ nhi đái Hoàng Thiên (君履后土而戴皇天, người tuy đạp lên Thần Đất mà đội ông Trời).” (2) Chỉ Thần Thổ Địa, Thần Đất, Địa Thần (地神), đồng nghĩa với Địa Kỳ (地祗), hay chỉ cho nơi thờ tự Thần Thổ Địa. Như trong Chu Lễ (周禮), phần Xuân Quan (春官), Đại Tông Bá (大宗伯) có câu: “Vương đại phong, tắc tiên cáo Hậu Thổ (王大封、則先告后土, nhà vua phong chức, trước phải cáo Thần Thổ Địa).” Hay trong Hán Thư (漢書), phần Võ Đế Kỷ (武帝紀) lại có câu: “Trẫm cung tế Hậu Thổ Địa Kỳ, kiến quang tập vu linh đàn, nhất dạ tam chúc (朕躬祭后土地祇、見光集于靈壇、一夜三燭, Trẫm cung kính cúng tế Thần Thổ Địa, thấy ánh sáng tập trung nơi linh đàn, một đêm ba lần thắp nến sáng).” (3) Tên gọi khác của Thổ Công (土公). (4) Tên gọi của một chức quan chuyên quản lý đất đai thời Thượng Cổ, như trong Tả Truyện, chương Chiêu Công Nhị Thập Cửu Niên (昭公二十九年) có giải thích rằng: “Ngũ Hành chi quan, thị vị Ngũ Quan …, Thủy Chánh viết Huyền Minh, Thổ Chánh viết Hậu Thổ (五行之官、是謂五官…水正曰玄冥、土正曰后土, quan Ngũ Hành được gọi là Ngũ Quan; … quan trông coi về thủy đạo là Huyền Minh, quan trông coi về đất đai là Hậu Thổ).” Trong dân gian Trung Quốc có câu chuyện Hậu Thổ Phu Nhân (后土夫人) cưới chàng họ Vi (韋). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820), khi tướng Cao Biền (高駢, 821-887) làm Tiết Độ Sứ (節度使) Hoài Nam (淮南), bộ tướng Lã Dụng Chi (呂用之, ?-887) ngụy tạo ra điềm linh dị của Hậu Thổ Phu Nhân và khuyên Cao Biền nên cát cứ một phương. Như trong bài thơ Hậu Thổ Miếu (后土廟) của La Ẩn (羅隱, 833-909) nhà Đường có câu: “Cửu Thiên Huyền Nữ do vô Thánh, Hậu Thổ Phu Nhân khởi hữu linh (九天玄女猶無聖、后土夫人豈有靈, Cửu Thiên Huyền Nữ chẳng phải Thánh, Hậu Thổ Phu Nhân sao có linh)” để nói lên sự hôn mê, vô tri của Cao Biền lúc bấy giờ. Hậu Thổ còn có tên gọi khác là Thổ Hoàng (土皇), vị Địa Thần của Đạo Giáo, được liệt vào trong Tứ Ngự (四御). Thần hiệu của Hậu Thổ là Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân (承天効法開皇后土元君), còn gọi là Địa Mẫu Nương Nương (地母娘娘), Hậu Thổ Nương Nương (后土娘娘). Trong điện thờ Tứ Ngự có thần tượng hay thần vị của Hậu Thổ. Tại Trung Quốc, kể từ thời nhà Đường trở đi, theo đà phát triển của thuật Phong Thủy, mỗi khi động thổ, thượng lương, về nhà mới, trấn trạch, làm cầu, đắp đường, v.v., người dân đều có thiết trai nghi dâng cúng tạ Hậu Thổ để cầu cho gia trạch bình an, cầu đường hanh thông, ban phước tiêu tai cát tường. Truyền thống nầy cũng được tìm thấy trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Tại Huế mỗi năm có 2 tháng để Cúng Đất là tháng 2 hoặc tháng 8 Âm Lịch. Trong lễ nầy, ngoài những lễ vật độc đáo như cua, trứng vịt luộc, rau muống luộc, mắm nêm, v.v., còn có luộc một con gà kiến tuổi đã trưởng thành và con gà đó phải được chọn lựa kỹ lưỡng, đặc biệt đôi chân phải “đẹp”. Sau khi cúng đất xong, theo tục lệ cặp chân gà được đem đi nhờ thầy xem bói giò để biết thời vận trong gia đình, hoặc được đem treo ở chàng bếp cho khô. Trong Cư Sĩ Truyện (居士傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1646) quyển 33, Vương Hư Trung truyện (王虛中傳), có đoạn rằng: “Kính lễ chư thiên Thiên Đế nhật nguyệt Hậu Thổ nhất thiết thần kỳ, vi thử đẳng chúng sanh cảm tạ phú tải chiếu lâm sinh dưỡng hộ vệ chi ân (敬禮諸天天帝日月后土一切靈祇、爲此等眾生感謝覆載照臨生養衛護之恩, kính lạy chư thiên Thiên Đế, trời trăng, Hậu Thổ, hết thả thần linh, vì các chúng sanh nầy mà cảm tạ ơn che chở, chiếu sáng, sinh dưỡng, hộ vệ).”
- Tứ Tự (四序): tức bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông. Như trong bài thơ Đăng Nam Thần Quang Tự Tháp Viện (登南神光寺塔院) của Hàn Ốc (韓偓, 844-923) nhà Đường có câu: “Tứ Tự hữu hoa trường kiến vũ, nhất Đông vô tuyết khước văn lôi (四序有花長見雨、一冬無雪卻聞雷, bốn mùa có hoa mưa lâu gặp, Đông về chẳng tuyết lại sấm vang).” Hay như trong Thập Môn Biện Hoặc Luận (十門辯惑論, Taishō Vol. 52, No. 2111) quyển Trung, có đoạn: “Phù Nhị Nghi phú tải, Tứ Tự sanh thành, Hạ khí trường luy, Lũng mạch dĩ chi tiều tụy; Thu phong thê khẩn, nham quế dĩ chi phương phi; Xuân nhật trì trì, vị khả sử cúc hoa vinh diệu; Đông sương lẫm lẫm, cự năng khiển tùng trinh diêu lạc (夫二儀覆載、四序生成、夏氣長羸、隴麥以之憔悴、秋風凄緊、巖桂以之芳菲、春日遲遲、未可使菊華榮曜、冬霜凜凜、詎能遣松貞搖落, phàm trời đất che chở, bốn mùa sinh thành; khí Hè yếu lâu, lúa Lũng theo đó tiều tụy; gió Thu thê thảm, quế núi nhờ vậy tốt tươi; ngày Xuân chầm chậm, chưa đủ khiến hoa cúc vươn mạnh; sương Đông buốt giá, sao lại khiến hoa tùng rơi rụng).”