VII. Tam Thập Lục Bộ Quỷ Vương Tánh Danh

 

Nguyên văn:

 

三十六部鬼王姓名

 

迦毘羅鎚身鬼王。甦生什針咽鬼王。櫱多婆食土鬼王。鬼郎咃食糞鬼王。阿婆叉無食鬼王。健多食氣鬼王。達磨婆食玉鬼王。婆利藍食水鬼王。阿迦帝怖望鬼王。金區叱食唾鬼王。麽羅婆叉食髪鬼王。羅乞叉食血鬼王。高婆娑食肉鬼王。蘇健陀食香烟鬼王。陀毘遮那疾行鬼王。蚩陀羅食便鬼王。婆多羅他下黑暗鬼王。呉利提神通大力鬼王。闘婆頴熾盛鬼王。佉羅多麽欲色鬼王。麽陀羅提婆海渚鬼王。蚩陀羅伺嬰兒鬼王。閻魔鬼使執杖鬼王。婆羅娑叉食血小兒鬼王。鳥休娑叉食精氣鬼王。婆羅門羅叉鬼王。軍茶爐燒食火鬼王。婆夷婆叉食風鬼王。陀輪婆羅化不淨巷陋鬼王。毘婆婆叉食毒鬼王。鴦迦羅婆叉食火炭鬼王。黔繫舍羅塚間鬼王。陀叱鬼曠野鬼王。毘利車住樹中鬼王。遮他婆他四道鬼王。魔羅伽殺身鬼王。

(此三十六部鬼王名如別牒則冩之)

 

Phiên âm:

 

TAM THẬP LỤC BỘ QUỶ VƯƠNG TÁNH DANH1

 

  1. Ca Tỳ La Chùy Thân Quỷ Vương
  2. Tô Sanh Thập Châm Yết Quỷ Vương
  3. Nghiệt Đa Bà Thực Thổ Quỷ Vương
  4. Quỷ Lang Tha Thực Phẩn Quỷ Vương
  5. A Bà Xoa Vô Thực Quỷ Vương
  6. Kiện Đa Thực Khí Quỷ Vương
  7. Đạt Ma Bà Thực Ngọc Quỷ Vương
  8. Bà Lợi Lam Thực Thủy Quỷ Vương
  9. A Xa Ca Đế Bố Vọng Quỷ Vương
  10. Kim Khu Sất Thực Thóa Quỷ Vương
  11. Ma La Bà Xoa Thực Phát Quỷ Vương
  12. La Khất Xoa Thực Huyết Quỷ Vương
  13. Cao Bà Ta Thực Nhục Quỷ Vương
  14. Tô Kiện Dà Thực Hương Yên Quỷ Vương
  15. Đà Tỳ Già Na Tật Hành Quỷ Vương
  16. Xi Đà La Thực Tiện Quỷ Vương
  17. Bà Đa La Tha Hạ Hắc Ám Quỷ Vương
  18. Ngô Lợi Đề Thần Thông Đại Lực Quỷ Vương
  19. Đấu Bà Dĩnh Xí Thạnh Quỷ Vương
  20. Khư La Đa Ma Dục Sắc Quỷ Vương
  21. Ma Đà La Đề Bà Hải Chử Quỷ Vương
  22. Xi Đà La Tứ Anh Nhi Quỷ Vương
  23. Diêm Ma Quỷ Sứ Chấp Trượng Quỷ Vương
  24. Bà La Ta Xoa Thực Huyết Tiểu Nhi Quỷ Vương
  25. Điểu Hưu Ta Xoa Thực Tinh Khí Quỷ Vương
  26. Bà La Môn La Xoa Quỷ Vương
  27. Quân Trà Lô Thiêu Thực Hỏa Quỷ Vương
  28. Bà Di Bà Xoa Thực Phong Quỷ Vương
  29. Đà Luân Bà La Hóa Bất Tịnh Hạng Lậu Quỷ Vương
  30. Tỳ Bà Bà Xoa Thực Độc Quỷ Vương
  31. Ương Ca La Bà Xoa Thực Hỏa Thán Quỷ Vương
  32. Kiềm Hệ Xá La Trũng Gian Quỷ Vương
  33. Đà Sất Quỷ Khoáng Dã Quỷ Vương
  34. Tỳ Lợi Xa Trú Thọ Trung Quỷ Vương
  35. Già Tha Bà Tha Tứ Đạo Quỷ Vương
  36. Ma La Già Da Sát Thân Quỷ Vương

(Thử Tam Thập Lục Bộ Quỷ Vương danh như biệt điệp tắc tả chi)

 

Dịch nghĩa:

 

TÊN HỌ BA MƯƠI SÁU LOẠI QUỶ VƯƠNG

 

  1. Ca Tỳ La Chùy Thân Quỷ Vương
  2. Tô Sanh Thập Châm Yết Quỷ Vương
  3. Nghiệt Đa Bà Thực Thổ Quỷ Vương
  4. Quỷ Lang Tha Thực Phẩn Quỷ Vương
  5. A Bà Xoa Vô Thực Quỷ Vương
  6. Kiện Đa Thực Khí Quỷ Vương
  7. Đạt Ma Bà Thực Ngọc Quỷ Vương
  8. Bà Lợi Lam Thực Thủy Quỷ Vương
  9. A Xa Ca Đế Bố Vọng Quỷ Vương
  10. Kim Khu Sất Thực Thóa Quỷ Vương
  11. Ma La Bà Xoa Thực Phát Quỷ Vương
  12. La Khất Xoa Thực Huyết Quỷ Vương
  13. Cao Bà Ta Thực Nhục Quỷ Vương
  14. Tô Kiện Dà Thực Hương Yên Quỷ Vương
  15. Đà Tỳ Già Na Tật Hành Quỷ Vương
  16. Xi Đà La Thực Tiện Quỷ Vương
  17. Bà Đa La Tha Hạ Hắc Ám Quỷ Vương
  18. Ngô Lợi Đề Thần Thông Đại Lực Quỷ Vương
  19. Đấu Bà Dĩnh Xí Thạnh Quỷ Vương
  20. Khư La Đa Ma Dục Sắc Quỷ Vương
  21. Ma Đà La Đề Bà Hải Chử Quỷ Vương
  22. Xi Đà La Tứ Anh Nhi Quỷ Vương
  23. Diêm Ma Quỷ Sứ Chấp Trượng Quỷ Vương
  24. Bà La Ta Xoa Thực Huyết Tiểu Nhi Quỷ Vương
  25. Điểu Hưu Ta Xoa Thực Tinh Khí Quỷ Vương
  26. Bà La Môn La Xoa Quỷ Vương
  27. Quân Trà Lô Thiêu Thực Hỏa Quỷ Vương
  28. Bà Di Bà Xoa Thực Phong Quỷ Vương
  29. Đà Luân Bà La Hóa Bất Tịnh Hạng Lậu Quỷ Vương
  30. Tỳ Bà Bà Xoa Thực Độc Quỷ Vương
  31. Ương Ca La Bà Xoa Thực Hỏa Thán Quỷ Vương
  32. Kiềm Hệ Xá La Trũng Gian Quỷ Vương
  33. Đà Sất Quỷ Khoáng Dã Quỷ Vương
  34. Tỳ Lợi Xa Trú Thọ Trung Quỷ Vương
  35. Già Tha Bà Tha Tứ Đạo Quỷ Vương
  36. Ma La Già Da Sát Thân Quỷ Vương

(Tên của Ba Mươi Sáu Loại Quỷ Vương nầy phải chép riêng ở Điệp khác)

 

Chú thích:

  1. Về tên gọi 36 vị Quỷ Vương, trong Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經, Taishō Vol. 17, No. 721) quyển 16, phẩm Ngạ Quỷ (餓鬼品) cũng như Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 cũng có nêu ra tên 36 loại Ngạ Quỷ, nhưng tên gọi có khác. Xin tham khảo chú thích số 2 của lòng văn số 31 Cô Hồn Tiến Điệp. Pháp Uyển Châu Lâm quyển 6 nêu rõ từng nguyên nhân vì sao bị đọa làm thân quỷ của từng loại như vậy. (1) Hoạch Thang Quỷ (鑊湯鬼, quỷ vạc nước sôi), do được người khác thuê sát sanh, nên bị bỏ vào vạc nước sôi nấu luộc; (2) Châm Khẩu Xú Quỷ (針口臭鬼, quỷ hôi thối có miệng nhỏ như cây kim), do vì lấy tiền tài mướn người giết hại, nên bị quả báo cổ họng nhỏ như cây kim, đến nỗi giọt nước cũng không chảy lọt; (3) Thực Thổ Quỷ (食吐鬼, quỷ ăn vào nôn mữa ra), chồng khuyên vợ bố thí, nhưng vợ tiếc của mà từ chối, tích trữ tài sản, keo kiệt, bỏn xẻn, nên thường ăn vào mà nôn mữa ra; (4) Thực Phẩn Quỷ (食糞鬼, Quỷ Ăn Phân), do vì người vợ lừa dối chồng, tự ăn các thức ăn uống, hiềm ghét chồng, nên ăn rồi mữa ra phân; (5) Thực Hỏa Quỷ (食火鬼, quỷ ăn lửa), do vì cấm người khác không cho lương thực, khiến họ tự chết, cho nên bị lửa thiêu đốt, kêu la thất thanh, đói khát khổ sở; (6) Thực Khí Quỷ (食氣鬼, quỷ ăn hơi), ăn nhiều đồ thức ăn ngon, không cho vợ con đang bị đói khát ăn, nên bị quả báo ngửi không khí mà thôi; (7) Thực Pháp Quỷ (食法鬼, quỷ ăn pháp), vì cầu tài lợi mà nói pháp cho người, nên thân thường đói khát, thịt nơi thân tiêu mất dần, chỉ mong chư tăng thuyết pháp thì mạng mới bảo tồn được; (8) Thực Thủy Quỷ (食水鬼, quỷ ăn nước), do bán rượu như nước để phỉnh gạt người ngu, không giữ trai giới, nên thường bị khát nước; (9) Hy Vọng Quỷ (希望鬼, quỷ hy vọng), do mua bán tranh giành giá cả, lừa gạt lấy đồ, nên thường bị đói khát, nhờ cúng tế cho các vong linh đời trước mà được ăn no đủ; (10) Thực Thùy Quỷ (食唾鬼, quỷ ăn đồ khạc nhổ), do vì lấy đồ không được trong sạch mà lừa dối người xuất gia, nên thân thường đói khát, luôn bị thiêu đốt, cầu mong người khạc nhổ ra để ăn đồ bất tịnh; (11) Thực Man Quỷ (食鬘鬼, quỷ ăn tràng hoa), do vì vào đời trước, trộm cắp tràng hoa của Phật để tự trang sức cho mình; nên nếu có người lấy tràng hoa cúng tế, nhờ vậy mà có tràng hoa để ăn; (12) Thực Huyết Quỷ (食血鬼, quỷ ăn máu), do giết hại sinh mạng, ăn máu huyết mà không chia cho vợ con, nên phải chịu làm thân quỷ nầy; chỉ nhờ cúng tế máu mơi được ăn; (13) Thực Nhục Quỷ (食肉鬼, quỷ ăn thịt), do vì lấy thịt thân chúng sanh, băm nhỏ từng miếng rồi đem cân, mua bán lừa đảo, vì vậy phải chịu quả báo nầy; nhờ cúng tế thịt đủ loại mới có thể ăn được; (14) Thực Hương Quỷ (食香鬼, quỷ ăn hương), do vì bán loại hương xấu mà lại được lợi nhiều, nên bị quả báo chỉ ăn hương khói mà thôi; (15) Tật Hành Quỷ (疾行鬼, quỷ đi nhanh), nếu có phá giới mà lại mang pháp phục tu sĩ, lường gạt, làm mê hoặc để lấy tài của; bảo cúng cho người bệnh, cuối cùng chẳng đưa cho người đó, lại lấy tự ăn một mình, nên bị quả báo thường ăn đồ nhơ nhớp, tự thiêu cháy thân mình; (16) Tứ Tiện Quỷ (伺便鬼, quỷ dòm rình đại tiểu tiện), do dùng mưu mô, lường gạt lấy tài của mà chẳng tu phước nghiệp, vì vậy mới thọ quả báo nầy, nơi lông của thân có lửa phát ra, thường ăn khí lực bất tịnh của người để tự tồn tại; (17) Hắc Ám Quỷ (黑闇鬼, quỷ đen tối), do vì làm trái pháp luật mà mong cầu tài của, làm cho người khác phải bị vào lao ngục, nên mắt chẳng thấy được, tiếng thường ai oán, bị ở trong chỗ tối tăm có nhiều rắn; (18) Đại Lực Quỷ (大力鬼, quỷ có sức mạnh lớn), do vì trộm cắp đồ của người, lại đem cho kẻ ác, nên chịu quả báo nầy, có sức thần thông lớn, chịu nhiều khổ não; (19) Xí Nhiên Quỷ (熾然鬼, quỷ bốc cháy), do phá thành, lục soát, cướp bóc, sát hại bá tánh, nên chịu quả báo nầy, thường la hét, khóc than, thân biến bốc lửa cháy; (20) Tứ Anh Nhi Tiện Quỷ (伺嬰兒便鬼, quỷ dòm rình con nít đại tiểu tiện), do giết hại con nít, tâm sanh giận dữ, nên chịu quả báo nầy, thường rình dòm người đại tiểu tiện, và có thể hại con nít; (21) Dục Sắc Quỷ (欲色鬼, quỷ ham sắc dục), do háo dâm, có tài của mà không bố thí để tạo ruộng phước, nên chịu quả báo nầy, du hành trong cõi người, cùng người giao tiếp, liều làm yêu quái để cầu mạng sống; (22) Hải Chử Quỷ (海渚鬼, quỷ sống ở cồn biển), do khi đi nơi đồng trống thấy người bệnh khổ, lừa dối người để lấy tài vật, nên bị sanh nơi cồn biển, chịu nỗi khổ nóng lạnh, gấp hơn con người 10 lần; (23) Diêm La Vương Chấp Trượng Quỷ (閻羅王執杖鬼, quỷ cầm gậy vua Diêm La), do đời trước, từng gần gũi quốc vương đại thần, chuyên làm việc bạo ác, nên chịu quả báo nầy, làm sứ giả cho nhà vua, làm con quỷ cầm gậy; (24) Thực Tiểu Nhi Quỷ (食小兒鬼, quỷ ăn con nít), do vì nói chú thuật làm mê hoặc, lừa dối lấy tài vật của người, giết hại heo dê, chết rồi đọa Địa Ngục, sau chịu quả báo nầy, thường ăn thịt con nít; (25) Thực Nhân Tinh Khí Quỷ (食人精氣鬼, quỷ ăn tinh khí người), do lừa dối là bạn thân, bảo rằng tôi sẽ cứu giúp bạn, khiến người ấy dung sức mạnh xông pha chết trong trận chiến, rốt cuộc không được cứu giúp, nên chịu quả báo nầy; (26) La Sát Quỷ (羅剎鬼, quỷ La Sát), do giết hại sinh mạng để làm đại hội, nên chịu quả báo đói khát, lửa thường bốc cháy; (27) Hỏa Thiêu Thực Quỷ (火燒食鬼, quỷ lửa cháy), do tâm keo kiệt, ganh tỵ, ăn đồ chúng tăng, nên trước đọa Địa Ngục, rồi từ Địa Ngục ra, làm thân con quỷ lửa thiêu đốt thân; (28) Bất Tịnh Hạng Mạch Quỷ (不淨巷陌鬼, quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm, bờ ruộng), do lấy đồ bất tịnh nầy mà cho người Phạm hạnh, nên chịu quả báo nầy, thường ăn đồ bất tịnh; (29) Thực Phong Quỷ (食風鬼, quỷ ăn gió), do thấy người xuất gia đến khất thực, hứa mà không bố thí cho họ thức ăn, nên thường bị đói khát, như cái khổ địa ngục; (30) Thực Thán Quỷ (食炭鬼, quỷ ăn than), do làm chủ hình ngục, cấm không cho ăn uống, nên chịu quả báo nầy, thường ăn than lửa; (31) Thực Độc Quỷ (食毒鬼, quỷ ăn chất độc), do vì lấy thức ăn độc làm cho người mất mạng, nên bị đọa Địa Ngục, sau làm thân quỷ, thường đói khát, ăn lửa độc, đốt cháy thân hình; (32) Khoáng Dã Quỷ (曠野鬼, quỷ nơi đồng trống), do các ao hồ nơi đồng trống tạo nên để bố thí nước cho người, nhưng vì ác khẩu, quyết phá khiến cho người đi đường phải chịu khát mệt, nên chịu quả báo nầy, thường bị đói khát, lửa đốt cháy thân hình; (33) Trũng Gian Thực Thán Thổ Quỷ (塚間食灰土鬼, quỷ sống nơi gò mã ăn tro đất), do lấy trộm hoa cúng Phật bán để nuôi sống, nên chịu quả báo nầy, thường ăn người chết, thây chết bốc cháy thành tro nóng; (34) Thọ Hạ Trú Quỷ (樹下住鬼, quỷ sống dưới gốc cây), do thấy người trồng cây để đem lại bóng mát cho người, lấy ác tâm mà chặt đi, lấy làm tài vật sử dụng, nên bị đọa vào trong thân cây, thường bị nóng lạnh bức thân; (35) Giao Đạo Quỷ (交道鬼, quỷ sống nơi đường giao thông), do cướp đoạt lương thực người đi đường, nên thường bị cưa sắt cắt thân, nhờ cúng tế nơi ngã tư đường, lấy thức ăn để nuôi sống bản thân; (36) Ma La Thân Quỷ (魔羅身鬼, quỷ thân Ma La), do làm việc tà đạo, không tin chân chánh, đọa làm ma quỷ, thường phá pháp lành của người.