17. Tiên Triều Nội Cung Điệp
Nguyên văn:
先朝內宮牒
竊念、玉階托蔭、蘭掖標英、貞靜禔躬、琚瑀璜珩之節、端莊勵行、詩書圖史之箴、雖眞遊久托於蓮臺、而閨範尚留於彤史。兹者夏天佳節、孟月良晨、壇開三晝之連霄、僧仗六和之淨侶、諷誦...
Phiên âm:
TIÊN TRIỀU NỘI CUNG ĐIỆP
Thiết niệm: Ngọc giai1 thác ấm,2 lan dịch3 tiêu anh; trinh tĩnh4 đề cung,5 cư vũ6 hoàng hành7 chi tiết; đoan trang lệ hành,8 Thi Thư9 Đồ Sử10 chi châm; tuy chơn du cửu thác chi liên đài, nhi khuê phạm11 thượng lưu ư đồng sử.12 Tư giả Hạ thiên giai tiết, mạnh nguyệt lương thần; đàn khai tam trú chi liên tiêu, tăng trượng Lục Hòa chi tịnh lữ; phúng tụng …
Dịch nghĩa:
ĐIỆP CÚNG NỘI CUNG CỦA TRIỀU ĐẠI TRƯỚC
Nép nghĩ: Thềm ngọc nương náu, cung gác tinh anh; trầm tĩnh tu thân, ngọc châu dưới trên thủ tiết; đoan trang đức hạnh, Thi Thư Đồ Sử khuyên răn; tuy rong chơi mãi thác chốn sen đài, mà mô phạm còn lưu nơi sử sách. Nay lúc trời Hè tiết đẹp, đầu tháng giờ lành; đàn mở ba ngày suốt ba đêm, tăng nương Lục Hòa ấy thanh tịnh; trì tụng …
Chú thích:
- Ngọc giai (玉階): thềm ngọc, thềm cung vua, hay chỉ cho triều đình. Như trong bài Hòa Giả Chí Xá Nhân Tảo Triều Đại Minh Cung (和賈至舍人早朝大明宮) của Sầm Tham (岑參, 715-770) nhà Đường có câu: “Kim tỏa hiểu chung khai vạn hộ, ngọc giai tiên trượng ủng thiên quan (金鎖曉鐘開萬戶、玉階仙仗擁千官, chuông sớm vòng vàng bày vạn hộ, thềm ngọc gậy tiên giữ ngàn quan).” Hay trong bài thơ Ngọc Giai Oán (玉階怨) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường cũng có câu: “Ngọc giai sanh bạch lộ, dạ cửu xâm la miệt (玉階生白露、夜久侵羅襪, thềm ngọc sinh sương trắng, đêm về thấm vớ tơ).” Trong bài thơ Cái Chổi của vua Lê Thánh Tông (黎聖宗, tại vị 1460-1497) lại có câu rằng: “Lời chúa vâng truyền xuống ngọc giai, cho làm lệnh tướng quét trần ai.”
- Thác ấm (托蔭): được che chở, bảo hộ, nhờ ơn, thác sanh. Như trong tiểu thuyết Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký (閱微草堂筆記), chương Hòe Tây Tạp Chí (槐西雜志) 1 của Kỷ Quân (紀昀, 1724-1805) nhà Thanh có câu: “Kim hạnh thác ấm đắc nhất quan, tương cát cư doanh truân tịch hỉ (今幸托蔭得一官、將拮据營窀穸矣, nay may được che chở làm chức quan, sau gặp lúc cùng đường thì đào huyệt mộ vậy).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 4, phần Ca Dương Tán Phật Môn (歌揚讚佛門), Kiều Cổ Xã (喬鼓社), có đoạn: “Thích Ca thị chơn Từ Phụ, hóa hiện thân hình ly bổ xứ, giá bạch tượng thừa vân khứ, hướng hoàng cung thác ấm Ma Da, cửu long thổ thủy kim bồn dục (釋迦是眞慈父、化現身形離補處、駕白象乘雲去、向皇宮托蔭摩耶、九龍吐水金盆浴, Thích Ca đúng là Cha Lành, hóa hiện thân hình rời bổ xứ, cỡi voi trắng nương mây đi, hướng hoàng cung gởi chất Ma Da, chín rồng phun nước bồn vàng tắm).”
- Lan dịch (蘭掖): nhà lan, chỉ nơi cư trú của các phi tần hậu cung. Như trong bài Phụng Hòa Thái Tử Nạp Phi Thái Bình Công Chúa Xuất Hàng (奉和太子納妃太平公主出降) của Quách Chánh Nhất (郭正一, ?-?) nhà Đường có câu: “Quế cung sơ phục miện, lan dịch tảo thăng kê (桂宮初服冕、蘭掖早升笄, cung quế mới đội miện, nhà lan sớm cài trâm).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), chương Lễ Nghi Chí (禮儀志) 3 lại có câu: “Thiếp mậu xử tiêu vi, thao cư lan dịch (妾謬處椒闈、叨居蘭掖, thiếp lầm ở chốn hoàng cung, lạm sống nơi cao quý).”
- Trinh tĩnh (貞靜): có hai nghĩa. (1) Đoan trang nhàn tĩnh. Như trong bài Tế Quân Thôi Thị Ai Từ (細君推氏哀辭) của Vương Uẩn (王惲, 1227-1304) nhà Nguyên có đoạn: “Tánh tư trinh tĩnh Bá Cơ cung, tứ thập tam niên hiếu mộng không (性姿貞靜伯姬恭、四十三年好夢空, tánh tình nhàn tĩnh Bá Cơ thương, bốn mươi ba năm thích mộng không).” (2) Kiên trinh trầm tĩnh. Như trong bài thơ Bắc Quách Bần Cư (北郭貧居) của Mạnh Giao (孟郊, 751-814) nhà Đường có câu: “Dục thức trinh tĩnh tháo, thu thiền ẩm thanh hư (欲識貞靜操、秋蟬飲清虛, muốn biết trầm tĩnh rốt, ve thu uống hư không).”
- Đề cung (禔躬): an thân, tu thân; đồng nghĩa với đề thân (禔身). Như trong Minh Sử (明史), chương Ẩn Dật Truyện (隱逸傳), Lưu Mẫn (劉閔), có câu: “Cầu cổ thánh hiền đề cung huấn gia chi pháp, suất nhi hành chi (求古聖賢禔躬訓家之法、率而行之, cầu thánh hiền xưa pháp tu thân dạy nhà, dẫn dắt mà thực hành pháp đó).”
- Cư vũ (琚瑀): đồ trang sức đeo bên mình, làm bằng châu ngọc hay ngọc thạch. Như trong tác phẩm Đại Đới Lễ Ký (大戴禮記), thiên Bảo Phó (保傅), có đoạn: “Thượng xa dĩ hòa loan vi tiết, hạ xa dĩ bội ngọc vi độ, thượng hữu song hành, hạ hữu song hoàng, dĩ nạp kỳ gian, cư vũ dĩ tạp chi (上車以和鸞爲節、下車以佩玉爲度、上有雙衡、下有雙璜、以納其間、琚瑀以雜之, xe phía trên lấy chuông treo làm nhịp điệu, xe bên dưới lấy ngọc bội để đánh giá, trên có hai đòn ngang, dưới có hai miếng ngọc nữa, để bỏ vào ở giữa, ngọc cư vũ để lẫn lộn nhau).” Lô Biện (盧辯, ?-?) nhà Ngụy chú thích rằng: “Tổng viết tỷ châu, nhi xích giả viết cư, bạch giả viết vũ(總曰玭珠、而赤者曰琚、白者曰瑀, tất cả gọi chung là ngọc trai; nhưng loại màu đỏ gọi là cư, màu trắng là vũ).”
- Hoàng hành (璜珩): hay hành hoàng (珩璜); hành (珩) là viên ngọc đeo ở trên, hoàng (璜) là viên đeo bên dưới. Như trong bài Tây Dịch Cáo Từ (西掖告詞), phần Tằng Tổ Mẫu Lý Thị Yến Quốc (曾祖母李氏燕國), của Tô Triệt (蘇轍, 1039-1112) nhà Tống có câu: “Hành hoàng chi tiết, động tất dĩ thời (珩璜之節、動必以時, nhịp điệu ngọc trên dưới, động tất theo thời gian).” Hay trong bài thơ Trừ Tịch Tả Hoài (除夕寫懷) của Huệ Sĩ Kỳ (惠士奇, 1671-1741) nhà Thanh cũng có câu: “Cung cung giai tiên hậu, tạp bội minh hành hoàng (匔匔偕先後、雜珮鳴珩璜, kính cẩn theo sau trước, ngọc bội reo dưới trên).”
- Lệ hành (勵行): có hai nghĩa chính. (1) Mài giũa, trau dồi đức hạnh. Như trong bức Dữ Nột Trai Tiên Sinh Thư (與訥齋先生書) của Phương Hiếu Nhụ (方孝孺, 1357-1402) nhà Minh có đoạn: “Do đương sức thân lệ hành, dĩ thiện quý tử tôn, tỉ bách tuế chi hậu, hương xưng thiện nhân (猶當飭身勵行、以善遺子孫、俾百歲之後、鄉稱善人, còn phải chỉnh sửa thân, trau dồi đức hạnh, lấy thiện để truyền lại cho con cháu, khiến sau khi trăm tuổi, xóm làng khen ngợi là người lành).” (2) Tận lực thực hành. Như trong Thanh Sử Cảo (清史稿), Hậu Phi Truyện (后妃傳) 1, phần Văn Tông Hiếu Khâm Hiển Hoàng Hậu (文宗孝欽顯皇后), có câu: “Thái Hậu lũ hạ chiếu: ‘Mẫu tử nhất tâm, lệ hành tân chính’ (太后屢下詔、母子一心、勵行新政, Thái Hậu nhiều lần ban chiếu rằng: ‘Mẹ con một lòng, tận lực thi hành chính sách mới’).”
- Thi thư (詩書): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho Thi Kinh (詩經) và Thượng Thư (尚書). Như trong Tả Truyện (左傳), thiên Hi Công Nhị Thập Thất Niên (僖公二十七年), có đoạn: “Thi, Thư, nghĩa chi phủ dã; Lễ, Nhạc, đức chi tắc dã (詩、書、義之府也、禮、樂、德之則也, Thi và Thư là tủ sách chứa đựng nghĩa; Lễ và Nhạc là khuôn phép của đức).” (2) Chỉ chung cho các thư tịch, sách vở. Như trong bài thơ Văn Quan Quân Thu Hà Nam Hà Bắc (聞官軍收河南河北) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Khước khan thê tử sầu hà tại, mạn quyển thi thư hỷ dục cuồng (卻看妻子愁何在、漫卷詩書喜欲狂, nhìn lại vợ con buồn cớ lẽ, bao quyển văn thư vui muốn điên).” (3) Làm thơ và thư pháp. Như trong Tống Thư (宋書), Truyện Tạ Linh Vận (謝靈運傳), có đoạn nhận xét rằng: “Linh Vận thi thư giai kiêm độc tuyệt, mỗi văn cánh, thủ tự tả chi, Văn Đế xưng vi nhị bảo (靈運詩書皆兼獨絕、每文竟、手自寫之、文帝稱爲二寶, cả thơ và thư pháp của Tạ Linh Vận [385-433] đều độc đáo, có một không hai; mỗi cuối đoạn văn, tự tay ông viết, vua Văn Đế [tại vị 424-353] gọi đó là hai báu vật).”
- Đồ Sử (圖史): chỉ cho Đồ Thư và Sử Thư. Như trong bài Tống Văn Hoàng Đế Nguyên Hoàng Hậu Ai Sách Văn (宋文皇帝元皇后哀策文) của Nhan Diên Chi (顏延之, 384-456) nhà Tống thời Nam Triều có câu: “Tấn tư tài thục, bàng tổng Đồ Sử (進思才淑、傍綜圖史, xét cùng tài năng và hiền thục, tổng hợp cả Đồ Thư và Sử Thư).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), Truyện Tống Cảnh (宋璟傳), có đoạn: “Thả Thương Ngô chi dã, Li Sơn chi đồ, thiện ác phân khu, Đồ Sử sở tải (且蒼梧之野、驪山之徒、善惡分區、圖史所載, vả lại cánh đồng Thương Ngô, tội đồ Li Sơn, thiện ác phân rõ, sách sử có ghi).”
- Khuê phạm (閨範): chỉ quy phạm đạo đức người phụ nữ cần phải tuân thủ. Như trong bài Cố Diêm Châu Phòng Ngự Sử Vương Túng Truy Thuật Bi (故鹽州防禦使王縱追述碑) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường có câu: “Tảo di phương ư khuê phạm, nghi ưng đảo ư hà linh (早貽芳於閨範、宜應禱於河靈, sớm lưu tiếng thơm quy phạm, nên cầu đảo nơi thần linh).” Hay trong Ngọc Tao Đầu (玉搔頭), phần Thập Sầu (拾愁), của Lý Ngư (李漁, 1610-1680) nhà Thanh, cũng có đoạn: “Chỉ thị nhĩ tại gia trung, tu yếu cẩn thủ khuê phạm, cần tố nữ công, bất khả thiện xuất phòng môn, nhạ nhân đàm tiếu (只是你在家中、須要謹守閨範、勤做女工、不可擅出房門、惹人談笑, chỉ là ngươi ở trong nhà, nên cần thận trọng giữ gìn quy phạm đạo đức, siêng năng làm nữ công, không được tự ý ra khỏi cửa phòng, khiến cho người ta cười nói).”
Đồng sử (彤史): có hai nghĩa chính. (1) Tên của một nữ quan trong cung thời cổ đại, chuyên trách ghi chép mọi chuyện trong hậu cung của đế vương. Như trong Tân Đường Thư (新唐書), phần Bách Quan Chí (百官志) 2, có câu: “Đồng Sử nhị nhân, Chánh Lục Phẩm (彤史二人、正六品, Đồng Sử hai người, chức quan Chánh Lục Phẩm).” Trong tác phẩm Thắng Triều Đồng Sử Thập Di Ký (勝朝彤史拾遺記) của Mao Kỳ Linh (毛奇齡, 1623-1716) nhà Thanh giải thích về chức quan nầy rằng: “Đồng Sử giả, hậu cung nữ quan danh dã; kỳ chế, tuyển lương gia nữ tử chi tri thư giả sung chi, sử chi ký cung vi khởi cư cập nội đình yến tiết chi sự, dụng thị khuyến giới (彤史者、後宮女官名也、其制、選良家女子之知書者充之、使之記宮闈起居及內庭燕褻之事、用示勸戒, Đồng Sử là tên vị nữ quan ở hậu cung; theo quy chế, vị nầy là do tuyển chọn người nữ của gia đình tốt lành rồi bảo người chuyên trách sổ sách sung vào, khiến người nầy ghi chép những sinh hoạt hằng ngày trong cung nội cũng như chuyện xảy ra ở nội đình, dùng để khuyên răn và cảnh giới).” (2) Chỉ cho cung sử, sử thư chuyên ghi chép về những sinh hoạt thường nhật trong nội cung. Như trong bài thơ Chương Hoài Thái Tử Tĩnh Phi Vãn Từ (章懷太子靖妃輓詞) của Thẩm Thuyên Kỳ (沉佺期, khoảng 656-714/715) nhà Đường có câu: “Đồng sử giai thanh tải, thanh cung ý phạm lưu (彤史佳聲載、青宮懿範留, Đồng sử tiếng thơm còn ghi mãi, thanh cung quy phạm vẫn lưu truyền).”