24. Tịnh Trù Điệp
Nguyên văn:
淨厨牒
啟建...大齋壇 今據
大南國...府...縣...總...社...居奉
佛修齋某事、齋主某祈福壽以康寧、保家門而吉慶。
伏爲正薦某靈、祈所薦以徃生、保家門而吉慶。謹取今月吉日、須仗禪流、就于某處、啟建某事齋壇、開于晝霄、周圓而散。今則花壇肇啟、秘範初行、預在香厨、安排供品、或弗精嚴、恐爲未便、爲此合行、具牒一道、上達
太陰司命灶府神君案下、鑒齋使者護淨善神案下。
伏乞、大展神通、劻勷敎法、遍行警察、驅除宅灶之妖氛、密賜護持、屛斥香厨之污穢、內魔不起、外障無侵、當使造饌精嚴、齋需整肅、供佛天之豐潔、進賢聖之芬芳、齋事圓諧、顯幽胥慶、毌令稽滯、牒到奉行。故牒。
右牒上
太陰司命灶府神君案下、鑒齋使者護淨善神案下、施行。
歲次...年...月...日...辰。仰牒。
南無香積藏菩薩證明。
Phiên âm:
TỊNH TRÙ ĐIỆP1
Khải Kiến … Đại Trai Đàn
Kim cứ: Đại Nam Quốc … Phủ, … Huyện, … Tổng, … Xã, cư phụng Phật tu trai mỗ sự. Trai chủ mỗ, kỳ phước thọ dĩ khang ninh, bảo gia môn nhi cát khánh.
Phục vị: Chánh tiến mỗ linh, kỳ sở tiến dĩ vãng sanh, bảo gia môn nhi cát khánh; cẩn dĩ kim nguyệt cát nhật, tu trượng Thiền lưu, tựu vu mỗ xứ, khải kiến mỗ sự trai đàn; khai vu trú tiêu, châu viên nhi tán. Kim tắc hoa đàn2 triệu khải, bí phạm sơ hành; dự tại hương trù,3 an bài cúng phẩm; hoặc phất tinh nghiêm, khủng vi vị tiện; vi thử hợp hành, cụ điệp nhất đạo thượng đạt:
Thái Âm Ty Mạng Táo Phủ Thần Quân4 án hạ. Giám Trai Sứ Giả,5 Hộ Tịnh Thiện Thần án hạ.
Phục khất: Đại triển thần thông, khuông nhương giáo pháp; biến hành cảnh sát, khu trừ trạch táo chi yêu phân; mật tứ hộ trì, bình xích hương trù chi ô uế; nội ma bất khởi, ngoại chướng vô xâm; đương sử tạo soạn tinh nghiêm, trai nhu chỉnh túc; cúng Phật Thiên chi phong khiết, tấn Hiền Thánh chi phân phương; trai sự viên hài, hiển u tư khánh; vô linh khể trệ, điệp đáo phụng hành. Cố điệp.
Hữu Điệp Thượng
Thái Âm Ty Mạng Táo Phủ Thần Quân án hạ, Giám Trai Sứ Giả Hộ Tịnh Thiện Thần án hạ thi hành.
Tuế thứ … niên, … nguyệt, … nhật, … thần. ngưỡng điệp.
Nam Mô Hương Tích6 Tạng Bồ Tát chứng minh.
Dịch nghĩa:
ĐIỆP CÚNG THANH TỊNH NHÀ TRÙ
Kiến Lập Đại Trai Đàn …
Nay vâng: Việc Xã …, Tổng …, Huyện …, Phủ …, nước Đại Nam, gia đình thờ Phật … Trai chủ … cầu phước thọ được an khang, giúp cửa nhà luôn tốt đẹp.
Cúi vì: Cúng chính hương linh …, cầu tiến cúng để vãng sanh, giúp cửa nhà luôn tốt đẹp; kính chọn tháng nầy ngày tốt, nương vào chúng tăng, tập trung nơi …, kiến lập trai đàn …; mở trong ngày đêm, tròn đầy hoàn mãn. Nay lúc hoa đàn khai mở, khoa phạm tiến hành; sẵn tại Nhà Trù, an bày phẩm cúng; nếu chẳng tinh nghiêm, e là bất tiện; vì đây cùng làm, điệp văn một bức, trình lên:
Thái Âm Ty Mạng Táo Phủ Thần Quân soi xét.
Giám Trai Sứ Giả, Hộ Tịnh Thiện Thần soi xét.
Cúi xin: Triển bày thần thông, đỡ nâng giáo pháp; cảnh giới cùng khắp, xua tan Nhà Bếp ấy yêu ma; thầm giúp hộ trì, dẹp sạch Nhà Trù bao ô uế; ma trong không dấy, chướng ngoài chẳng xâm; khiến cho món cúng tinh nghiêm, nhu cầu đầy đủ; cúng Phật trời cho thanh khiết, dâng hiền thánh được thơm tho; việc chay vẹn toàn, âm dương hoan hỷ; chẳng khiến trễ nãi, điệp đến vâng làm. Kính điệp.
Kính Dâng Điệp
Thái Âm Ty Mạng Táo Phủ Thần Quân soi xét; Giám Trai Sứ Giả, Hộ Tịnh Thiện Thần soi xét, thi hành.
Vào lúc … ngày … tháng … năm …
Kính lạy Bồ Tát Hương Tích Tạng chứng minh.
Chú thích:
- Điệp nầy dùng để đọc khi hành lễ cúng làm cho thanh tịnh Nhà Bếp (Nhà Trù). Nghĩa là thức ăn, phẩm vật dâng cúng cho các đại Trai Đàn cần phải trang nghiêm, trong sạch, không ô uế, nhơ nhớp; nhờ vậy mới có công đức lớn, đem lại lợi lạc, âm siêu dương thái. Tuy nhiên, bên cạnh yêu cầu các phương tiện nấu ăn cũng như vật phẩm cần phải thanh tịnh, một yếu tố khác đóng vai trò quan trọng trong Nhà Trù là người nấu ăn. Quý vị nầy cũng cần phải giữ ba nghiệp thân, khẩu và ý cho được thanh tịnh trong thời gian chế biến các món ăn dâng cúng đàn tràng.
- Hoa đàn (華[花]壇): từ mỹ xưng của đàn tràng, trai đàn; vì tại các đàn tràng thường được trang trí nhiều phẩm vật dâng cúng, đặc biệt là hoa, rất trang nghiêm, rực rỡ, nên có tên như vậy. Như trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển 1 có đoạn: “Kim tắc la liệt hoa đàn, xiển dương Phật sự, hương phần bảo triện, đằng ngũ sắc chi vân hà, chúc trán kim liên, xán nhất thiên chi tinh đẩu (今則羅列華壇、闡揚佛事、香焚寶篆、騰五色之雲霞、燭綻金蓮、燦一天之星斗, nay tất la liệt hoa đàn, xiển dương Phật sự, hương xông triện báu, tỏa năm sắc ấy mây lành, nến thắp sen vàng, sáng một trời muôn sao tỏ).”
- Hương Trù (香廚[厨]): từ mỹ xưng của Nhà Bếp (Nhà Trù) trong các tự viện Phật Giáo, cũng là từ gọi tắt của Hương Tích Trù (香積廚, Bếp Hương Tích). Từ “hương (香)” ở đây vốn phát xuất từ điển cứ “hương phạn (香飯)” trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ, phẩm Hương Tích Phật (香積佛品) thứ 10: “Ư thị Hương Tích Như Lai dĩ chúng hương bát thạnh mãn hương phạn, dữ hóa Bồ Tát(於是香積如來以眾香缽盛滿香飯、與化菩薩, lúc bấy giờ Hương Tích Như Lai lấy các bình bát hương thơm bỏ đầy thức ăn thơm, đưa cho các Bồ Tát hóa hiện).” Như trong bài thơ Xã Tập Thiên Giới Tuần Công Phòng (社集天界循公房) của Cố Mộng Du (顧夢游, 1599-1660) nhà Thanh có câu: “Trượng tiền tằng bất hệ, tùy ý khất Hương Trù (杖錢曾不繫、隨意乞香廚, bạc tiền chưa từng buộc, tùy ý xin cơm chùa).” Trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 48 có đoạn: “Dạ minh liêm ngoại thiên phong tú, loan kính đài tiền vạn tượng thù, tảo túng diệt tích, bất lập tri thù, thùy vi Phật Điện, thùy thị Hương Trù (夜明簾外千峰秀、鸞鏡臺前萬象殊、掃蹤滅跡、不立錙銖、誰爲佛殿、誰是香廚, đêm sáng ngoài rèm ngàn núi đẹp, kính soi trước đài muôn cảnh sai, quét tung xóa tích, chẳng cần tiền bạc, ai là Điện Phật, ai là Bếp Chùa).”
- Tôn xưng của Táo Quân.
- Giám Trai Sứ Giả (監齋使者): vị thần chuyên giám sát việc ăn uống của chúng tăng; còn được gọi là Giám Trai Bồ Tát (監齋菩薩), Giám Trai (監齋). Vị nầy có khuôn mặt màu xanh, tóc đỏ. Theo tác phẩm Thiền Lâm Tượng Khí Tiên (禪林象器箋), phần Linh Tượng Môn (靈像門), các tự viện dưới thời nhà Thanh (清, 1616-1911) đều gọi Giám Trai Sứ Giả là Giám Trai Bồ Tát. Bộ Tiễn Đăng Dư Thoại (剪燈餘話) quyển 1, phần Thính Kinh Viên Ký (聽經猿記), của Lý Trinh (李禎, 1403-1424) nhà Thanh, cho biết rằng có người tên Viên Tú Tài (袁秀才), thường vui đùa, làm dáng đứa bé nhỏ, nhảy qua xà nhà, có khi duỗi hai chân ngồi trong khám thờ, lấy màu xanh nhuộm lên mặt, khiến cho người trong Nhà Bếp cho rằng đó là Giám Trai, Đại Thánh Hồng Sơn (洪山大聖). Về sau, Nhà Trù của chùa thường tôn thờ vị nầy. Trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, 卍Tục Tạng KinhVol. 63, No. 1248), phần Kết Hạ Khải Kiến Lăng Nghiêm Hội Sớ (結夏啟建楞嚴會疏), có câu: “Trù ty Giám Trai Sứ Giả, chủ thang hỏa tỉnh Táo thần kỳ (廚司監齋使者、主湯火井灶神祇, Giám Trai Sứ Giả chưởng quản Nhà Trù là Táo Thần chủ quản về lửa, nước sôi, giếng nước).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 3 có câu thỉnh rằng: “Đông Trù Ty Mạng, Giám Trai Sứ Giả thần chúng (東廚司命、監齋使者神眾, Đông Trù Ty Mạng, Giám Trai Sứ Giả các thần).” Trong Thiền môn có bài tán về Giám Trai Bồ Tát rằng: “Giám Trai Sứ Giả,hỏa bộ oai thần, điều hòa bách vị tiến duy hinh, tai hao vĩnh vô xâm, hộ mạng tư thân, thanh chúng vĩnh mông ân. Nam Mô Diệm Huệ Địa Bồ Tát (監齋使者、火部威神、調和百味薦惟馨、災耗永無侵、護命資身、清眾永蒙恩、南無燄慧地菩薩, Giám Trai Sứ Giả, quản lửa oai thần, điều hòa trăm vị cúng hương thơm, tai nạn mãi không xâm, hộ mạng an thân, đại chúng mãi mang ơn. Kính lễ Diệm Huệ Địa Bồ Tát).”
- Hương Tích (香積): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi của vị Phật ở thế giới của các loại hương thơm. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ, Phẩm Hương Tích Phật (香積佛品) thứ 10, có đoạn: “Thượng phương giới phân quá tứ thập nhị Hằng hà sa Phật độ, hữu quốc danh Chúng Hương, Phật hiệu Hương Tích, kim hiện tại kỳ quốc hương khí, tỷ ư thập phương chư Phật thế giới nhân thiên chi hương, tối vi đệ nhất; bỉ độ vô hữu Thanh Văn, Bích Chi Phật danh, duy hữu thanh tịnh đại Bồ Tát chúng, Phật vi thuyết pháp; kỳ giới nhất thiết giai dĩ hương tác lâu các, kinh hành hương địa, uyển viên giai hương, kỳ thực hương khí, châu lưu thập phương vô lượng thế giới (上方界分過四十二恆河沙佛土、有國名眾香、佛號香積、今現在其國香氣、比於十方諸佛世界人天之香、最爲第一、彼土無有聲聞、辟支佛名、唯有清淨大菩薩眾、佛爲說法、其界一切皆以香作樓閣、經行香地、苑園皆香、其食香氣、周流十方無量世界, thế giới phương trên phân quá bốn mươi hai Hằng hà sa cõi Phật, có nước tên là Chúng Hương [các loại hương], đức Phật hiệu là Hương Tích, nay hiện tại hương khí của nước ấy, so sánh với hương của trời người trong thế giới của mười phương các đức Phật, tột cùng số một; quốc độ kia không có tên Thanh Văn, Bích Chi Phật, chỉ có chúng đại Bồ Tát thanh tịnh, Phật vì họ thuyết pháp; thế giới ấy tất cả đều lấy hương làm thành lầu gác, kinh hành nơi đất hương, vườn nhà đều ngát hương, họ ăn hương khí, cùng khắp mười phương vô lượng thế giới).” (2) Chỉ cõi nước Phật, tự viện Phật Giáo. Như trong bài thơ Thu Dạ Túc Công Phòng Hỷ Phổ Môn Thượng Nhân Tự Dương Tiện Sơn Chí (秋夜肅公房喜普門上人自陽羡山至) của Lưu Trường Khanh (劉長卿, 709-780) nhà Đường có câu: “Tảo vãng lai Hương Tích, hà nhân trú Ốc Châu (早晚來香積、何人住沃洲, sớm chiều đến Hương Tích, người nào sống Ốc Châu).” Hay trong bài thơ Quá Trung Phong Lễ Thương Công Tháp (過中峰禮蒼公塔) của Ngô Vĩ Nghiệp (吳偉業, 1609-1671) nhà Thanh cũng có câu: “Điểu đề hương tích tán, hoa lạc ảnh đường cô (鳥啼香積散、花落影堂孤, chim kêu chùa tan tác, hoa rụng bóng nhà đơn).” (3) Chỉ thức ăn của chúng tăng hay Đạo sĩ. Như trong bài thơ Lão Trần Đạo Nhân Tự Vân Mộng Bị Chiêu Tác Địa Thượng Chủ Giả Hựu Thường Thọ Nhất Quý Gia Cúng Chúc Chi Viết Tha Nhật Tất Lai Ngô Gia Tác Nhi Hí Tặng Tiểu Tụng (老陳道人自雲夢被召作地上主者又常受一貴家供祝之曰他日必來吾家作兒戲贈小頌) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Hạnh hữu thiên môn hương tích cúng, bất như tùy hỷ khử la trai (幸有千門香積供、不如隨喜去羅齋, may có ngàn nhà dâng cơm cúng, không bằng tùy hỷ bỏ mời ăn).” (4) Từ gọi tắt của Hương Tích Trù (香積廚, Bếp Hương Tích). Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3, phần Thỉnh Phật Văn (請佛文), có đoạn: “Sái phi phi chi pháp vũ, phiến táp táp chi từ phong, quảng khai Hương Tích chi trù, phổ hiến Tô Đà chi soạn (洒霏霏之法雨、扇颯颯之慈風、廣開香積之廚、普獻酥酡之饌, rưới lả tả ấy mưa pháp, quạt vù vù ấy gió từ, rộng mở Hương Tích bếp trời, cúng khắp Tô Đà cỗ lạt).” Hay trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ Chú (華嚴經疏注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 7, No. 234) quyển 4 lại có câu: “Hương Tích thế giới, xan hương phạn, nhi Tam Muội hiển; Cực Lạc Phật quốc, thính phong kha, nhi chánh niệm thành (香積世界、餐香飯、而三昧顯、極樂佛國、聽風柯、而正念成, Hương Tích thế giới, ăn cơm hương, mà Tam Muội tỏ; Cực Lạc Phật quốc, nghe gió lay, mà chánh niệm thành).”