43. Yết Tổ Thiên Quan Nhập Tháp Sớ

 

Nguyên văn:

 

謁祖遷棺入塔疏

 

伏以

迹現西天、紹覺皇之宗裔、化開東土、破義學於膏肓、契妙道以忘言、指人心而成佛。拜疏爲

大南國...寺奉

佛獻供請靈謁祖遷棺、報德酬恩事。今法子等惟日仰干獅座、俯鑒蟻忱

伏爲尊師徽號和尚之覺靈、慶生于...年月日辰、示寂于...年月日辰、閱世于...十之春秋、慧命... 十之戒法。

窃念、師資德大、嗟夫半點之難追、法乳恩深、念者寸毫而莫報、今收緣而坐化、訂明日以遷棺、虔具菲儀、載伸謁禮、仰慈光之俯鑒、俾靈覺以逍遙。今則謹具疏章、和南拜白。

南無西天東土歷代祖師菩薩、本寺開山和尚、諸位覺靈座下。

伏願、慈悲廣大、德量弘深、俾覺靈速證菩提、圓佛果位登安養、扶禪子了明般若、淨覺花香滿禪林、辰辰興顯禪門、世世尊崇佛道。謹疏。

 

Phiên âm:

 

YẾT TỔ THIÊN QUAN NHẬP THÁP SỚ

 

Phục dĩ

Tích hiện Tây Thiên,1 thiệu Giác Hoàng2 chi tông duệ; hóa khai Đông Độ,3 phá nghĩa học4 ư cao hoang; khế diệu đạo5 dĩ vong ngôn,6 chỉ nhân tâm nhi thành Phật.7

Bái sớ vị: Đại Nam Quốc … mỗ tự phụng Phật hiến cúng thỉnh linh yết Tổ thiên quan, báo đức thù ân sự. Kim Pháp tử … đẳng, duy nhật ngưỡng can sư tọa, phủ giám nghĩ thầm.8

Phục vị: Tôn Sư huy hiệu Hòa Thượng chi giác linh. Khánh sanh vu … niên nguyệt nhật thần. Thị tịch vu … niên nguyệt nhật thần. Duyệt thế vu … thập chi xuân thu, huệ mạng duyệt … thập chi giới pháp.9

Thiết niệm: Sư tư đức đại, ta phù bán điểm chi nan truy; pháp nhũ ân thâm, niệm dã thốn hào nhi mạc báo; kim thu duyên nhi tọa hóa, đính minh nhật dĩ thiên quan; kiền cụ phỉ nghi, tải thân yết lễ; ngưỡng từ quang chi phủ giám, tỷ linh giác dĩ tiêu dao. Kim tắc cẩn cụ sớ chương, hòa nam bái bạch:

Nam Mô Tây Thiên Đông Độ Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát, Bổn Tự Khai Sơn10 Hòa Thượng, Chư Vị Giác Linh tọa hạ.

Phục nguyện: Từ bi quảng đại, đức lượng hoằng thâm; tỷ giác linh tốc chứng Bồ Đề, viên Phật quả vị đăng An Dưỡng;11 phò Thiền tử liễu minh Bát Nhã, tịnh Giác Hoa hương mãn Thiền lâm;12 thần thần hưng hiển Thiền môn, thế thế tôn sùng Phật đạo. Cẩn sớ.

 

Dịch nghĩa:

 

SỚ CÚNG BÁI YẾT TỔ DI QUAN NHẬP THÁP

 

Cúi nghĩ:

Dấu hiện Tây Thiên, nối Giác Hoàng ấy con cháu; khai hóa Đông Độ, phá nghĩa học chỗ sai lầm;ngộ đạo mầu thảy quên lời, chỉ tâm người mà thành Phật.

Lạy Sớ tâu: Việc Chùa …, nước Đại Nam, thờ Phật, dâng cúng bái yết Tổ, di quan, báo đức đáp ơn. Nay Pháp tử … Hôm nay ngưỡng trông tòa Sư Tử, chứng giám tấc thành.

Cúi vì: Giác linh tôn sư Hòa Thượng (huy hiệu) … Hạ sanh vào lúc, ngày, tháng, năm … Thị tịch vào lúc, ngày, tháng, năm … Trải qua … mươi năm, huệ mạng được …mươi giới pháp.

Nép nghĩ: Thầy trò đức cả, than ôi nửa điểm khó đền; pháp nhũ ơn sâu, nhớ mãi tấc lông đâu dễ báo; nay hết duyên mà thác hóa, chọn ngày mai để di quan; dâng đủ mọn nghi, trãi lòng hiến lễ; ngưỡng ánh từ mà chứng giám, giúp giác linh được tiêu dao. Nay đã kính đủ sớ chương, kính thành thưa lạy:

Kính lạy các đời Tổ Sư Bồ Tát của Tây Thiên, Đông Độ, Hòa Thượng khai sơn chùa nầy, các vị giác linh chứng giám.

Cúi mong: Từ bi rộng lớn, đức lượng sâu xa; giúp giác linh sớm chứng Bồ Đề, tròn quả Phật lên ngôi An Dưỡng; độ Thiền sinh liễu ngộ Bát Nhã, tịnh Giác Hoa hương khắp Thiền lâm; thời thời hưng thịnh Thiền môn, kiếp kiếp tôn sùng Phật đạo. Kính dâng Sớ.

 

Chú thích:

  1. Tây Thiên (西天): có hai nghĩa chính. (1) Là từ xưng hô của Trung Hoa ngày xưa đối với Ấn Độ. Thời cổ đại, Ấn Độ được gọi là Thiên Trúc (天竺), Tây Trúc (西竺); vốn nằm ở phía Tây Trung Hoa, nên có tên là Tây Thiên. Như trong bài Tích Trượng Ca Tống Minh Sở Thượng Nhân Quy Phật Xuyên (錫杖歌送明楚上人歸佛川) của Hoàng Phủ Tằng (皇甫曾, ?-?) nhà Đường có câu: “Thượng nhân viễn tự Tây Thiên chí, Đầu Đà hạnh biến Nam triều tự (上人遠自西天至頭陀行遍南朝寺, Thượng nhân xa từ Tây Thiên đến, hạnh Đầu Đà khắp chùa Nam triều).” Hay trong bài thơ Dĩ Thừa Yến Mặc Tặng Tăng Pháp Nhất (以承宴墨贈僧法一) của Triều Xung Chi (晁沖之, ?-?) nhà Tống cũng có câu: “Vương hầu cựu vật nhân kim đắc, cánh tả Tây Thiên bối diệp thư (王侯舊物人今得更寫西天貝葉書, vương hầu vật cũ nay có được, lại chép Tây Thiên lá bối kinh).” Trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 16, phần Thất Trung Ngữ Yếu (室中語要), lại có đoạn: “Đông Tây Nam Bắc, thất tung bát hoành, triêu đáo Tây Thiên, mộ quy Đường Độ (東西南北七縱八橫朝到西天歸唐土, Đông Tây Nam Bắc, bảy dọc tám ngang, sáng đến Tây Thiên [Ấn Độ], tối về Đường Độ [Trung Hoa]).” Hoặc trong Hạt Đường Huệ Viễn Thiền Sư Quảng Lục (堂慧遠禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1360) quyển 1 lại có đoạn: “Tự thử Tây Thiên tứ thất, Đông Độ nhị tam, Phật Phật thọ chi vô cùng, đăng đăng truyền chi bất tận (自此西天四七東土二三佛佛授之無窮燈燈傳之不盡, từ đây Tây Thiên hai tám, Đông Độ sáu vị, Phật Phật truyền thọ vô cùng, đèn đèn nối nhau bất tận).” (2) Đối với tín đồ Tịnh Độ Giáo, từ nầy chỉ cho thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂) được đề cập trong Kinh A Di Đà.
  2. Giác Hoàng (覺皇): vua giác ngộ, còn gọi là Giác Vương (覺王), xưng hiệu của Phật. Như trong bài Hưng Long Tiết Công Đức Sớ (代興節功德疏) của Trần Sư Đạo (陳師道, 1053-1101) nhà Tống có câu: “Phục nguyện bằng Giác Hoàng chi ngoại trợ, hiệu thần tử chi nội tâm (伏願憑覺皇之外助、效臣子之內心, cúi mong nương Giác Hoàng ấy ngoài giúp, chữa chúng thần ấy trong tâm).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3, phần Lục Hiến Tổng Văn (六獻總文), lại có đoạn: “Như Cam Lộ nhi ốc tâm, tợ Đề Hồ nhi quán đảnh, hà tất cánh tầm Di Lặc Phật, chỉ kim hạnh đổ Thích Ca Sư, cung đối Giác Hoàng, liêu ngâm Phật vận, tín sĩ kiền thành, cung thân thiết bái (如甘露而沃心、似醍醐而灌頂、何必更尋彌勒佛、只今幸睹釋迦師、恭對覺皇、聊吟佛韻、信士虔誠、躬身設拜, như Cam Lộ mà rót tâm, tựa Đề Hồ mà rưới đầu, hà tất lại tìm Di Lặc Phật, chỉ nay may gặp Thích Ca Ngài, cung đối Giác Hoàng, hứng ngâm Phật hiệu, tín đồ lòng thành, cúi thân lễ lạy).”
  3. Đông Độ (東土): có mấy nghĩa. (1) Thời cổ đại, chỉ cho một địa khu hay tiểu quốc nào đó ở phía Đông của đất Thiểm (). Như trong Quốc Ngữ (國語), phần Trịnh Ngữ (鄭語), có đoạn: “Hoàn Công vi Tư Đồ, thậm đắc Chu chúng dữ Đông độ chi nhân (桓公為司徒,甚得周眾與東土之人, Hoàn Công làm chức Tư Đồ, rất được lòng dân xứ Chu và người đất Thiểm).” (2) Dưới thời Đông Tấn, Nam Triều, từ nầy đặc biệt dùng để chỉ cho một dãy Tô Nam (蘇南) và Triết Giang (浙江). Như trong Tấn Thư (晉書), Dữu Dực Truyện (翼傳), có đoạn: “Thời Đông Độ đa phú dịch, bách tánh nãi tùng hải đạo nhập Quảng Châu, Sắc Sứ Đặng Nhạc đại khai cổ chú, chư di nhân thử tri tạo binh khí (時東土多賦役、百姓乃從海道入廣州、刺史鄧嶽大開鼓鑄、諸夷因此知造兵器, lúc bấy giờ Đông Độ nhiều sưu thuế và lao dịch, bá tánh bèn từ đường biển vào Quảng Châu, Sắc Sứ Đặng Nhạc bắt đầu đúc khí giới, nhờ đó bọn mọi rợ mới biết chế tạo binh khí).” (3) Tên gọi thời xưa của Trung Quốc, đối với phương Tây mà nói. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 8 có đoạn: “Đông Độ đệ nhất thế Tổ Bồ Đề Đạt Ma tôn giả tự Nam Thiên Trúc lai, cửu nguyệt nhị thập nhất nhật đạt ư Quảng Châu (東土第一世祖菩提達磨尊者自南天竺來、九月二十一日達於廣州, Tổ đời thứ nhất của Trung Hoa là tôn giả Bồ Đề Đạt Ma, từ Nam Thiên Trúc đến, ngày 21 tháng 9 thì đến tại Quảng Châu).” Hay trong Nguyên Tẩu Hành Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (元叟行端禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1419) quyển 4, phần Hàng Châu Kính Sơn Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự Ngữ Lục (杭州徑山興聖萬壽禪寺語錄), lại có câu: “Tây Thiên tích nhật Tịnh Danh lão, Đông Độ kim triêu Bàng Uẩn công (西天昔日淨名老、東土今朝龐蘊公, Tây Thiên [Ấn Độ] ngày xửa Tịnh Danh lão, Đông Độ [Trung Hoa] sáng nay Bàng Uẩn ông).” Hoặc trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 1, phần Trí Tuệ Linh Lung Phạ Ra Đát Đa Như Lai Bảo Huấn (智慧玲瓏囉噠哆如來寶訓), cũng có câu: “Hình cốt tuy tồn Đông Độ, tâm thần dĩ tại Liên Trì (形骸雖存東土、心神已在蓮池, hình cốt tuy còn Đông Độ [Trung Quốc], tâm thần đã ở Liên Trì [Tây phương]).”
  4. Nghĩa học (義學): học về nghĩa lý kinh điển, hay chỉ cho học thuyết về giáo nghĩa Phật Giáo. Như trong Trần Thư (陳書), Từ Lăng Truyện (徐陵傳), có đoạn: “Hậu Chúa tại Đông Cung, linh Lăng giảng Đại Phẩm Kinh, nghĩa học danh tăng, tự viễn vân tập (後主在東宮、令陵講大品經、義學名僧、自遠雲集, Hậu Chúa ở Đông Cung, sai Từ Lăng giảng Kinh Đại Phẩm, các danh tăng học giáo nghĩa kinh điển, từ xa tập trung về).” Hay trong Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記, Taishō Vol. 51, No. 2078) quyển 6, phần Chấn Đán Đệ Nhị Thập Cửu Tổ Huệ Khả Tôn Giả Truyện (震旦第二十九祖慧可尊者傳), lại có đoạn: “Nãi tùng Thiền sư Bảo Tĩnh giả xuất gia, tầm đắc giới ư Vĩnh Mục Tự, khứ vụ nghĩa học, vị cơ nhi kinh luận giai thông (乃從禪師寶靜者出家、尋得戒於永穆寺、去務義學、未幾而經論皆通, Tôn giả bèn theo Thiền sư Bảo Tĩnh xuất gia, tìm thọ giới ở Vĩnh Mục Tự, rồi rời chùa siêng năng học giáo nghĩa kinh điển, không bao lâu sau thì kinh luận đều thông suốt).” Hoặc trong Hoa Nghiêm Kinh Truyền Ký (華嚴經傳記, Taishō Vol. 51, No. 2073) quyển 3, phần Thích Pháp Mẫn (釋法敏), cũng có đoạn: “Vu thời tứ phương nghĩa học Sa Môn bát bách dư nhân, đương cảnh tăng thiên nhị bách nhân, ni chúng tam bách (于時四方義學沙門八百餘人、當境僧千二百人、尼眾三百, lúc bấy giờ, Sa Môn học giáo nghĩa kinh điển ở bốn phương có hơn 800 người, tăng ở trong vùng 1.200 người, ni chúng 300).”
  5. Diệu đạo (妙道): đạo mầu nhiệm, đạo tối thượng, đạo vô thượng; là từ thay thế cho giáo pháp của Đức Phật. Như trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 17, phần Độc Nghệ Sư Tạo Tĩnh Thất Sớ (獨詣師造靜室疏), có đoạn: “Nguyên phù, vô động vô tĩnh giả, diệu đạo chi thể; hữu động hữu tĩnh giả, diệu đạo chi dụng (無動無靜者、妙道之體、有動有靜者、妙道之用, nguyên lai cái không động không tĩnh là thể của đạo mầu; cái có động có tĩnh là dụng của đạo mầu).” Hay trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 3, phần Tùy Châu Đại Hồng Pháp Vi Thiền Sư (隨州大洪法爲禪師), lại có đoạn: “Pháp Thân vô tướng, bất khả dĩ âm thanh cầu; diệu đạo vong ngôn, khởi khả dĩ văn tự hội (法身無相、不可以音聲求、妙道亡言、豈可以文字會, Pháp Thân không tướng, chẳng thể lấy âm thanh mà tìm; đạo mầu quên lời, liệu có thể lấy chữ nghĩa hiểu được chăng ?).” Hoặc trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 3, phần Tiến Điệu Môn (薦悼門), có câu: “Lễ Thập Hiệu chi từ tôn, ngộ Nhất Thừa chi diệu đạo (禮十號之慈尊、悟一乘之妙道, lạy Mười Hiệu đấng từ tôn, ngộ Một Thừa ấy đạo mầu).”
  6. Vong ngôn (忘言): quên lời, nghĩa là trong tâm lãnh hội ý chỉ, không cần dùng đến ngôn ngữ để giải thích, thuyết minh. Như trong Trang Tử (莊子), phần Ngoại Vật (外物), có câu: “Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn (言者所以在意、得意而忘言, lời nói vốn ở nơi ý, được ý mà quên lời).” Hay trong bài Khổ Tư Hành (苦思行) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc có đoạn: “Trung hữu kì niên nhất ẩn sĩ, tu phát giai hạo nhiên, sách trượng tùng ngã du, giáo ngã yếu vong ngôn (中有耆年一隱士、鬚髮皆皓然、策杖從我遊、我要忘言, trong đó có một ẩn sĩ tuổi già, râu tóc đều trắng xóa, cầm gậy theo tôi rong chơi, dạy tôi nên quên lời).” Trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 16, phần Tam Huyền Khảo (三玄考), lại có đoạn: “Nhất cú minh minh cai vạn tượng, Trùng Dương cửu nhật cúc hoa tân, nhược vị vong ngôn, nan khế thử chỉ (一句明明該萬象、重陽九日菊花新、若未忘言、難契此旨, một câu sáng trong trùm vạn tượng, Trùng Dương mồng chín cúc hoa xinh, nếu chưa quên lời, khó hiểu được ý nầy).” Hoặc trong Chư Phương Môn Nhân Tham Vấn Ngữ Lục (諸方門人參問語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1224) cũng có đoạn: “Tùy cơ thọ pháp, Tam Học tuy thù, đắc ý vong ngôn, Nhất Thừa hà dị (隨機授法、三學雖殊、得意忘言、一乘何異, tùy theo cơ duyên mà truyền trao pháp, Ba Học [Giới, Định, Tuệ] tuy có khác, được ý quên lời, Một Thừa đâu có khác).”
  7. Đoạn vănTích hiện Tây Thiên, thiệu Giác Hoàng chi tông duệ; hóa khai Đông Độ, phá nghĩa học ư cao hoang; khế diệu đạo dĩ vong ngôn, chỉ nhân tâm nhi thành Phật (現西天、紹覺皇之宗裔、化開東土、破義學於膏肓、契妙道以忘言、指人心而成佛, dấu hiện Tây Thiên, nối Giác Hoàng ấy con cháu, khai hóa Đông Độ, phá nghĩa học chỗ sai lầm, ngộ đạo mầu thảy quên lời, chỉ tâm người mà thành Phật)” của lòng văn Sớ trên, được tìm thấy trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 4, phần Sơ Tổ Đạt Ma Kỵ (初祖達磨忌), nhưng trật tự câu và nội dung có khác: “Cung duy sơ Tổ, tích hiện Tây Thiên, nhất vi hàng lai, khai hóa Đông Độ, đại tai chánh truyền, thiệu Giác Hoàng chi tông duệ, quách nhiên vô thánh, phá nghĩa học ư cao hoang, bách xuyên đáo hải, huýnh tuyệt dị lưu, cảo nhật lệ thiên, khánh vô trắc ảnh, chỉ nhân tâm nhi thành Phật, khế diệu đạo dĩ vong ngôn (恭維初祖、跡現西天、一葦航來、開化東土、大哉正傳、紹覺皇之宗裔、廓然無聖、破義學之膏肓、百川到海、迥絕異流、杲日麗天、罄無側影、指人心而成佛、契妙道以忘言, Cúi nghĩ: Sơ Tổ [Bồ Đề Đạt Ma] dấu hiện Tây Thiên, nhành lau thuyền đến, khai hóa Đông Độ, lớn thay chánh truyền, nối Giác Hoàng ấy con cháu, vượt cả phàm thánh, phá nghĩa học chỗ sai lầm, trăm sông về biển, xa dứt khác dòng, sáng lạn đẹp trời, hết tăm bóng dáng, chỉ tâm người mà thành Phật, ngộ đạo mầu thảy quên lời).”
  8. Nghĩ thầm (): từ khiêm cung, thể hiện sự chân thành đến tận cùng như con kiến nhỏ nhoi vậy; đồng nghĩa với nghĩ khổn (蟻悃). Như trong tác phẩm Trùng Luận Văn Trai Bút Lục (重論文齋筆錄) của Vương Đoan Lí (王端履, ?-?) nhà Thanh có câu: “Túng kiệt nghị thầm, nan thù hồng tạo (竭蟻忱、難酬鴻造, dốc hết tâm thành, khó đáp hồng ân).”
  9. Giới pháp (戒法): chỉ chung cho luật pháp do Đức Phật chế ra, cũng là quỹ phạm của chúng sanh. Phàm 5 giới, 8 giới, 10 giới, Cụ Túc Giới (具足戒), Tam Tụ Tịnh Giới (三聚淨戒), 10 giới trọng, 48 giới khinh, v.v., được gọi là giới pháp; sau đó chỉ chung cho giới luật. Giới là căn bản của Thánh đạo, nhờ nương vào giới nầy, sanh thiền định và trí tuệ diệt khổ; được miễn khỏi bị chìm đắm trong biển sanh tử luân hồi, nên được gọi là một trong những con đường tắt dẫn đến giải thoát. Trong tác phẩm Sự Vật Kỷ Nguyên (事物紀原), chương Đạo Thích Khoa Giáo (道釋科敎), Giới Đàn (戒壇), của Cao Thừa (高承, ?-?) nhà Tống, cho biết rằng: “Hán Ngụy chi tăng, tuy thế nhiễm nhi giới pháp vị bị, duy thọ Tam Quy (漢魏之僧、雖剃染而戒法未僃、唯受三歸, tăng sĩ thời nhà Hán và Ngụy, tuy xuất gia mà giới pháp chưa đủ, chỉ thọ Tam Quy thôi).” Hay trong Lược Thọ Tam Quy Ngũ Bát Giới Tinh Bồ Tát Giới (略授三歸五八戒幷菩薩戒, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1087) cũng khẳng định rằng: “Phù giới pháp giả, nãi thị thành Phật chi nguyên, chứng Thánh chi bản (夫戒法者、乃是成佛之源、證聖之本, phàm giới pháp chính là nguồn để thành Phật, là gốc để chứng Thánh).” Hoặc trong Ngũ Dăng Hội Nguyên (五燈會元, Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 1, phần Thập Tam Tổ Ca Tỳ Ma La Tôn Giả (十三祖迦毗摩羅尊者), lại có đoạn: “Khởi sân hận tưởng, mạng chung đọa vi mãng thân, trú thị quật trung, kim dĩ thiên tải, thích ngộ tôn giả, hoạch văn giới pháp, cố lai tạ nhĩ (恨想、命終墮爲蟒身、住是窟中、今已千載、適遇尊者、獲聞戒法、故來謝爾, do khởi tưởng sân hận, khi mạng hết đọa làm thân con trăn, sống trong động nầy, nay đã ngàn năm, may gặp tôn giả, được nghe giới pháp, nên đến tạ người).”
  10. Khai sơn (開山): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tức khai mở núi lập chùa. Xưa kia, đại đa số các tự viện đều được xây dựng ở những nơi núi non thâm u, nhàn tĩnh, nên gọi là khai sơn, hay khai cơ (開基). Như trong bài tựa của Sơn Ông Thiền Sư Văn Tập (山翁禪師文集) do Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh sáng tác, có đoạn: “Dư du Vân Môn chư tự, chí Bình Dương, Sơn Ông khai sơn kinh thỉ (余遊雲門諸寺、至平陽、山翁開山經始, ta ngao du các chùa ở Vân Môn, đến Bình Dương, Sơn Ông bắt đầu khai sơn cho đến nay).” Hay trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 48 lại có đoạn: “Đương Dương huyện Ngọc Tuyền sơn Cảnh Đức Thiền Tự vi Tùy Trí Giả Thiền Sư khai sơn đạo tràng (當陽縣玉泉山景德禪寺爲隋智者禪師開山道塲, Cảnh Đức Thiền Tự ở Ngọc Tuyền Sơn, huyện Đương Dương là đạo tràng do Thiền Sư Trí Khải [538-397] nhà Tùy khai sơn).” (2) Là từ tôn xưng cho vị Tổ, trú trì đời đầu tiên của chùa. Như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 14, phần Từ Biện Gián Pháp Sư Pháp Từ (慈辯諫法師法嗣), Pháp Sư Trạch Khanh (法師擇卿), có đoạn: “Nguyên Hựu nhị niên, sơ kiến Thọ Thánh Viện, thỉnh sư khai sơn (元祐二年初建壽聖院、請師開山, vào năm thứ 2 [1807] niên hiệu Nguyên Hựu, ban đầu kiến lập Thọ Thánh Viện, cung thỉnh Pháp Sư làm Tổ khai sơn).” Hay trong Võ Lâm Tây Hồ Cao Tăng Sự Lược (武林西湖高僧事略, Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1526), phần Ngũ Đại Vĩnh Minh Tiềm Thiền Sư (五代永明潛禪師), lại có đoạn: “Chu Hiển Đức nguyên niên, kiến Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự, thỉnh sư cư chi, vi khai sơn thỉ Tổ (周顯德元年、建慧日永明寺、請師居之、爲開山始祖, vào năm đầu [954] niên hiệu Hiển Đức nhà Chu, kiến lập Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự, cung thỉnh Thiền Sư đến ở, là vị Tổ khai sơn đầu tiên).” (3) Khai sáng học phái, tông phái nào đó, hay chỉ cho người khai sáng học phái, tông phái đó.
  11. An Dưỡng (安養): tên gọi khác của thế giới Tây Phương Cực Lạc; còn gọi là An Dưỡng Quốc (安養國), An Dưỡng Tịnh Độ (安養淨土), An Dưỡng Thế Giới (安養世界), v.v. Như trong thế giới Cực Lạc Tịnh Độ có thể làm cho an tâm, dưỡng thân, nên có tên gọi như vậy. Chánh Pháp Hoa Kinh (正法華經, Taishō Vol. 9, No. 263) quyển 9 có đoạn rằng: “Sanh An Dưỡng Quốc, kiến Vô Lượng Thọ Phật (生安養國、見無量壽佛, sanh về nước An Dưỡng, thấy Phật Vô Lượng Thọ).” Trong Văn Thù Sư Lợi Phật Độ Nghiêm Tịnh Kinh (文殊師利佛土嚴淨經, Taishō Vol. 11, No. 318) quyển Thượng có dạy rằng: “Quốc độ nghiêm tịnh, do như Tây phương An Dưỡng chi quốc (國土嚴淨、猶如西方安養之國, quốc độ trang nghiêm trong sạch, giống như nước An Dưỡng ở phương Tây).” Ngoài ra, An Dưỡng còn là văn dịch khác của An Lạc (安樂); cả hai đều là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc. Cho nên, vị giáo chủ của An Dưỡng Quốc là đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀). Tác phẩm viết về thế giới nầy có An Dưỡng Sao (安養抄, Taishō, Vol. 84), 7 quyển, không rõ tác giả; An Dưỡng Tập (安養集, Anyōshū) của Nhật Bản, 10 quyển, do Nguyên Long Quốc (源隆國, Minamoto-no-Takakuni, 1004-1077) cùng với 10 vị A Xà Lê của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) biên tập tại Bình Đẳng Viện (平等院, Byōdō-in), vùng Vũ Trị (宇治, Uji), v.v. Tây Trai Tịnh Độ Thi (西齋淨土詩) quyển 1 của Phạn Kỳ Sở Thạch (梵琦楚石, 1296-1370), được thâu lục trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tuyển Định Tịnh Độ Thập Yếu (靈峰蕅益大師選定淨土十要, Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1164) quyển 8, có bài thơ rằng: “Bất hướng Ta Bà giới thượng hành, yếu lai An Dưỡng quốc trung sanh, thử phi niệm Phật công phu đáo, an đắc siêu phàm nguyện lực thành, hương vụ nhập thiên phù cái ảnh, noãn phong xuy thọ tác cầm thanh, phân minh thức đắc chơn như ý, khẳng nhận Ma Ni tác thuỷ tinh (不向娑婆界上行、要來安養國中生、此非念佛工夫到、安得超凡願力成、香霧入天浮蓋影、暖風吹樹作琴聲、分明識得眞如意、肯認摩尼作水晶, chẳng hướng Ta Bà cõi ấy hành, nên về An Dưỡng nước trong sanh, công phu niệm Phật không thấu triệt, sao được siêu phàm nguyện lực thành, hương khói xông trời lọng báu ảnh, thổi cây gió ấm diễn cầm đàn, rõ ràng biết được chơn như ý, chấp nhận Ma Ni làm thủy tinh).”
  12. Thiền lâm (禪林): tên gọi khác của Thiền Viện (禪院), Thiền Tự (禪寺), Tùng Lâm (叢林); là đạo tràng chuyên tu tập Thiền pháp, là nơi học đồ, đồng đạo ở khắp nơi tập trung về, cùng nhau khích lệ, tinh tấn học đạo. Như trong bài Thiểm Châu Hoằng Nông Quận Ngũ Trương Tự Kinh Tạng Bi (陝州弘農郡五張寺經藏碑) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có đoạn: “Xuân viên liễu lộ, biến nhập Thiền lâm, tàm nguyệt tang tân, hồi thành Định thủy (春園柳路、變入禪林、蠶月桑津、迴成定水, vườn xuân đường liễu, nhập vào rừng Thiền, trăng tơ bến dâu, trở thành nước Định).” Hay trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 12 lại có đoạn: “Bách Trượng Thanh Quy, thiên hạ Thiền lâm, tuân nhi hành chi (百丈清規天下禪林、遵而行之, Bách Trượng Thanh Quy, các Thiền lâm trong thiên hạ, tuân theo mà thực hành).” Hoặc trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰泉院因師集賢語, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 1, phần Thích Ca Sinh Nhật (釋迦生日), cũng có đoạn: “Thích Viêm Đế thanh hòa chi hầu, nãi Như Lai giáng đản chi thời, tường quang xán xán ái Thiền lâm, thụy ái thông thông lung Phạm vũ, kiền sư thành khổn, đặc triển hạ nghi (適炎帝清和之候、乃如來降誕之時、祥光燦燦靄禪林、瑞靄蔥蔥籠梵宇、虔攄誠悃、特展賀儀, đúng Viêm Đế thanh hòa gặp lúc, là Như Lai khánh đản thời kỳ, hào quang rực rỡ ngút Thiền lâm, điềm lành lung linh bao Phạm vũ, cúi thỏa tấc thành, kính bày nghi cúng).” Một số thư tịch liên quan đến Thiền lâm như Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299), 20 quyển, do Đạo Thái (道泰), Trí Cảnh (智境) nhà Nguyên biên tập; Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寶訓筆說, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1266), 3 quyển, do Trí Tường (智祥) nhà Thanh soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1262), 1 quyển, do Đại Kiến (大建) nhà Minh soạn; Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (禪林僧寶傳, Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1560), 30 quyển, do Huệ Hồng Giác Phạm (慧洪覺範, 1071-1128) nhà Tống soạn; Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252), 4 quyển, do Thạch Cổ Chủ Nhân Vĩnh Giác Nguyên Hiền (石鼓主人永覺元賢, 1578-1657) nhà Minh soạn; Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (禪林僃用清規, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250), 10 quyển, do Nhất Hàm (壹咸) nhà Nguyên biên soạn; Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寶訓合註, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1263), 4 quyển, do Trương Văn Gia (張文嘉) hiệu đính, Trương Văn Hiến (張文憲) nhà Thanh tham duyệt; Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562), 15 quyển, do Sa Môn Tự Dung (自融) ở Tử Thác Sơn (紫籜山) nhà Thanh soạn; Thiền Lâm Tăng Bảo Thuận Chu (禪林寶訓順硃, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1265), 4 quyển, do Thánh Khả Đức Ngọc (聖可德玉) nhà Thanh soạn, v.v.